Năm 2026 đánh dấu 80 năm kể từ lần đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Quốc gia Bảo tàng Viện, tiền thân của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ngày nay. Tám thập niên qua, nơi đây không chỉ lưu giữ những chứng tích của lịch sử dân tộc mà còn trở thành không gian kết nối quá khứ với hiện tại, góp phần trao truyền ký ức và giá trị văn hóa Việt Nam.
Từ một sắc lệnh đến một thiết chế văn hóa
Ngày 23/11/1945, chỉ hơn hai tháng sau ngày Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 65 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành độc lập, còn bộn bề khó khăn, việc bảo tồn di sản được đặt ra từ rất sớm cho thấy tầm nhìn của Người đối với lịch sử và văn hóa dân tộc.
Cũng trong giai đoạn này, Bảo tàng Louis Finot của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp được chuyển đổi thành Quốc gia Bảo tàng Viện. Ngày 9.2.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự khai mạc Triển lãm “Những tài liệu lịch sử của văn hóa Việt Nam” tại đây. Đây là lần đầu Người đến thăm địa điểm nay thuộc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Theo TS Nguyễn Văn Cường, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, sự kiện cho thấy ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc gìn giữ chứng tích lịch sử, văn hóa và phát huy giá trị giáo dục của bảo tàng.
Sau năm 1954, hệ thống bảo tàng tiếp tục được xây dựng. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức mở cửa ngày 3/9/1958, trên cơ sở tiếp nhận cơ sở vật chất, tài liệu và hiện vật của Bảo tàng Louis Finot.

Trong khi đó, tháng 12/1954, Hội đồng Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa quyết định xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng. Ngày 5/1/1959, Người đến xem trưng bày trước khi Bảo tàng Cách mạng Việt Nam khánh thành một ngày sau đó.
Ngày 26.9.2011, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đây là bước tiếp nối hành trình bảo tồn và phát huy di sản, giúp lịch sử dân tộc được nhìn nhận trong một dòng chảy liên tục, từ những dấu tích văn hóa lâu đời đến cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Bảy lần Người đến thăm
Điểm đặc biệt của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là mối liên hệ sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quá trình hoạt động của hai bảo tàng tiền thân, Người đã bảy lần đến thăm, xem trưng bày, nói chuyện với cán bộ và trực tiếp góp ý về nội dung, phương pháp hoạt động.

Ngày 5/1/1959, Người đến xem trưng bày tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và nói chuyện với cán bộ. Người trao cho bảo tàng một chiếc lược bằng vỏ đồi mồi – kỷ vật do bà Nguyễn Thị Thanh trao tặng – với mong muốn hiện vật được bảo quản và giới thiệu tới công chúng.
Ngày 23/3/1959, Người cùng Tổng thống Ấn Độ R. Pra-xát đến thăm Bảo tàng. Người trực tiếp giới thiệu về cách kéo pháo bằng sức người trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ba tháng sau, ngày 25/6/1959, Người cùng Tổng thống Indonesia Xucácnô đến thăm Bảo tàng. Khi nghe thuyết minh về Phan Chu Trinh, Người nhắc cán bộ: “Cụ Phan thực sự là người yêu nước!”
Câu nói ngắn gọn cho thấy yêu cầu thận trọng, khách quan và sâu sắc trong việc nhìn nhận, giới thiệu các nhân vật lịch sử.
Ngày 4/7/1959, trên Báo Nhân Dân với bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Xem Viện Bảo tàng Cách mạng, nhấn mạnh vai trò giáo dục của bảo tàng.
Người căn dặn, người đến bảo tàng cần “vừa xem vừa suy nghĩ và liên hệ với bản thân mình”; cán bộ phụ trách phải làm rõ ý nghĩa của các hiện vật.
Đó không chỉ là lời căn dặn dành cho một bảo tàng ở một thời điểm cụ thể mà còn là nguyên tắc có giá trị lâu dài: hiện vật phải được đặt trong câu chuyện lịch sử; nội dung cần rõ ràng, dễ hiểu; người thuyết minh phải có kiến thức và biết cách truyền đạt phù hợp với từng nhóm công chúng.

Ngày 13/2/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến tham quan Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Người chăm chú xem từng nét hoa văn trên bản dập mặt trống đồng Ngọc Lũ – một trong những biểu tượng tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn.
Ngày 12/3/1963, Người cùng Nhà vua Lào Xrixavang Vátthana và Thủ tướng Lào Xuvana Phuma đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Sau khi xem sa bàn “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, Người nhận xét: “Bảo tàng làm được cái sa bàn đẹp đấy”.
Lần thứ bảy, ngày 21/10/1964, Người cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta đến thăm Bảo tàng.
Lần này, Người đặc biệt chú ý đến tính cập nhật của nội dung trưng bày. Khi xem phòng “Phong trào cách mạng miền Nam”, Người nhận xét nội dung đã không còn phù hợp với tình hình mới và yêu cầu chỉnh lý, bổ sung. Người cũng góp ý về sơ đồ, biển tên các phòng để khách tham quan dễ định hướng.
Khi nghe thuyết minh về chiến thắng Điện Biên Phủ, Người nhắc cán bộ phải khái quát, tập trung, đi thẳng vào vấn đề, phù hợp với thời gian của khách tham quan. Sau đó, Người trực tiếp giới thiệu bằng tiếng Pháp trong khoảng bảy phút.
Để lịch sử không chỉ nằm trong hiện vật
Qua bảy lần đến thăm, những góp ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy Người không chỉ quan tâm đến việc bảo tồn hiện vật mà đặc biệt chú trọng cách lịch sử được truyền tải đến công chúng.
Với Người, bảo tàng chỉ thực sự phát huy giá trị khi người xem không dừng lại ở việc “nhìn” hiện vật mà còn hiểu, suy nghĩ và tìm thấy mối liên hệ giữa quá khứ với cuộc sống hôm nay.
Tinh thần ấy vẫn là một trong những yêu cầu đặt ra đối với bảo tàng hiện đại. Hiện vật có thể được bổ sung, cách trưng bày có thể thay đổi, công nghệ có thể mở ra những phương thức tiếp cận mới, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là làm cho lịch sử trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận và có sức gợi mở đối với công chúng.
Theo TS Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, bảo tàng không chỉ là nơi bảo quản những hiện vật quý giá mà còn là thiết chế nghiên cứu, giáo dục và truyền thông văn hóa, nơi kết nối quá khứ với hiện tại.
80 năm kể từ lần đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Quốc gia Bảo tàng Viện, dấu ấn của Người vẫn hiện diện trong các hiện vật, tư liệu và phương thức hoạt động của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Từ Sắc lệnh 65 về bảo tồn di sản đến những chỉ dẫn về trưng bày, thuyết minh, cập nhật nội dung và phục vụ công chúng, có thể thấy một quan niệm nhất quán: bảo tồn không phải để quá khứ đứng yên, mà để những giá trị của quá khứ tiếp tục được nhận biết, hiểu đúng và trao truyền.
Ở đó, lịch sử không chỉ được lưu giữ trong hiện vật mà còn tiếp tục được nghiên cứu, kể lại và lan tỏa, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản cho các thế hệ hôm nay và mai sau.