|
Nhà sưu tập nghệ thuật: Anh là ai? Nhà sưu tập nghệ thuật, nói một cách đơn giản, họ là những người mua tác phẩm nghệ thuật theo quan điểm và tiêu chí tương đối nhất quán; đặt thành những bộ sưu tập theo chủ đề, trường phái, lịch đại, đồng đại… Đơn giản thế, nhưng thế giới các nhà sưu tập nghệ thuật có lẽ là một trong những thế giới nhiều bí ẩn nhất trên thị trường kinh doanh nghệ thuật. Họ là một phần vô cùng quan trọng của thị trường nghệ thuật thế giới, là người tạo nên các kỷ lục về giá tranh, người tạo nên các tên tuổi “triệu đô” và cũng là một nguồn sống quan trọng của các bảo tàng, các triển lãm (hầu hết các bảo tàng lớn trên thế giới đều có mượn tác phẩm trưng bày từ những bộ sưu tập của các nhà sưu tập nghệ thuật lớn). ![]() Ở Việt Nam, kể từ những sự kiện mỹ thuật đầu tiên như: Năm 1923, họa sĩ Nam Sơn (1890-1973) tham gia Đấu xảo Hà Nội với 4 bức tranh Nhà nho xứ Bắc, Ông già Kim Liên, Cô gái Bắc kỳ và Tĩnh vật - đây được xem như những tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam được bán; Triển lãm mỹ thuật của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội) năm 1929; Triển lãm mỹ thuật quốc tế tại điện Vincennes (Pháp) năm 1931, ta quen gọi là triển lãm đấu xảo; Salon des Artistes Francais năm 1933 tại Paris… mỹ thuật hiện đại Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn có quan hệ giữa tác giả, tác phẩm với người mua bán, sưu tập. Và sau gần một thế kỷ, đã hình thành hẳn một lực lượng các nhà sưu tập nghệ thuật ở Việt Nam (gồm cả người Việt, Việt kiều lẫn người nước ngoài sống ở Việt Nam). Họ là ai, những nhà sưu tập nghệ thuật Việt Nam? Họ đã thực sự là một phần quan trọng của thị trường nghệ thuật Việt Nam và thế giới?
Tổ chức chuyên đề: Văn Bảy |
(TT&VH Cuối tuần) - Việc mua bán tranh trên thị trường nói chung được bảo mật rất ghê, nhất là giá tranh. Bên cạnh đó, các nhà sưu tập nghệ thuật thường chọn hướng lặng lẽ, vì họ quan niệm đó là công việc riêng tư, không cần phải cho nhiều người biết. Chính vì vậy, rất khó kể tên được hết các nhà sưu tập tranh Việt Nam từ xưa đến nay, nhất là với những nhà sưu tập quốc tế, người nước ngoài, khi họ thường làm việc theo đường dây khép kín và ít xuất hiện.
BA THẾ HỆ
|
Chân dung ông Đức Minh do danh họa Dương Bích Liên (1924-1988) vẽ, nay thuộc bộ sưu tập của Bùi Quốc Chí. |
Bên cạnh thế hệ thứ nhất, thiết nghĩ cũng cần nhắc tới CLB sưu tầm nghệ thuật ở Hà Nội, tuy hoạt động ì ạch và cầm chừng, nhưng cũng là CLB đầu tiên ở Việt Nam chuyên làm công việc này. Theo cuốn Địa chỉ mỹ thuật, NXB Mỹ thuật, 2/2002, thì CLB này thành lập từ năm 1992, ra mắt tại 19 Hàng Buồm, ông Tô Ninh làm chủ nhiệm, với sự tham gia của nhiều thế hệ như Nguyễn Văn Lâm, Việt Chiến, Hà Thúc Cần, Danh Anh, Phan Thị Ngọc Mỹ, Nguyễn Mạnh Phúc, Trần Mạnh Đạt, Lê Thị Bích, Bùi Đức Miên, Trần Thái, Trần Thu Hà, Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Thế Khang, Nguyễn Văn Lai…
Thế hệ thứ hai, một phần “sinh ra” từ các bộ sưu tập của thế hệ thứ nhất, khi các vị tiền bối này mất đi, con cái chia gia tài, bán chác. Trong giới cho biết, hiện nay chỉ còn bộ sưu tập Tín - Bổng (thuộc Phạm Văn Bổng ngày trước) là còn tương đối nhiều, nếu so với thời đỉnh điểm mà ông Bổng Hàng Buồm sưu tập được. Khởi điểm cho thế hệ này có thể kể đến Nguyễn Hào Hải, người bắc cầu hai thế hệ, chuyên sưu tập tranh Dương Bích Liên; bên cạnh là Trần Mạnh Đạt, người chuyên tranh Nguyễn Tư Nghiêm và cũng là người giúp cho Trần Hậu Tuấn vào nghề sưu tập. Họ ở nhóm 4x, 5x… với những cái tên như Hà Thúc Cần, Quỳnh Nga, Ngô Phương Quỳnh, Danh Anh, Lê Thuận, Bùi Quốc Chí, Trần Hậu Tuấn, Sơn - Hà (phòng tranh Tự Do), Nghĩa (phòng tranh Apricot), Đỗ Huy Bắc, Lê Thiệp (chuyên tranh Thái Tuấn), Tuấn Phạm, Hải Ngô, Dũng (phòng tranh Vĩnh Lợi), Trần Lê Nguyễn, Mai Nghĩa, Nguyễn Đăng Quang, Hàn Tấn Quang, Hà Dũng, Bội Trân, Huỳnh Thiện, Trần Tử Văn… và một số người khác trong CLB sưu tầm Hà Nội.

và Dương Bích Liên (từ trái sang)
Mỗi thế hệ sưu tập thường cách nhau từ 10 đến 20 năm, sau thế hệ thứ nhất, thế hệ hai vào nghề nhiều nhất trong giai đoạn Đổi mới (khoảng 1986 – 1990), thế hệ ba thì có thể lấy cột mốc năm 1998, khi ở quốc tế nhiều phiên đấu giá có tranh Việt. Để tranh Việt đến được các phiên đấu giá này, công sức của nhà sưu tập Hà Thúc Cần (hoạt động chủ yếu ở Hong Kong, Singapore) và một phụ nữ tên Loan (ở Pháp) là hết sức lớn, họ là những người tiên phong đặt nền móng.
Thế hệ thứ ba thuộc nhóm 6x, 7x… nhưng chủ yếu là 6x hoặc hơn một chút, họ phân hóa rõ rệt nhất về tiêu chí sưu tập, khi các tác phẩm của bậc thầy, phần lớn ở nước ngoài, hoặc đã có chủ nhân. Chính thế hệ thứ ba này cũng phải đảm đang trách nhiệm đi tìm câu trả lời cho vấn đề tranh giả tranh thật tại Việt Nam; làm sao để không bị họa sĩ và người làm tranh giả “thuốc”; và quan trọng hơn, “kiểm định” lại xem hai thế hệ đi trước ai còn tác phẩm, ai chỉ còn cái tên. Rõ nét và nổi tiếng thì thế hệ này chưa bằng, nhưng có thể thấy những cái tên như Lê Thái Sơn, Phạm Phú Ngọc Trai, Nguyễn Thị Hiền, Đặng Lê Nguyên Vũ, Lan Hương, Đinh Hoa, Đỗ Thị Tuyết Mai…
AI LÀ NHÀ SƯU TẬP THỰC THỤ?
Theo nhà phê bình Yvonne Schultz trong bài viết in trên L’ Avenir du Tonkin về cuộc triển lãm đầu của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1929 (in lại trên tạp chí Nam Phong, số 145, tháng 12/1929), thì: “Cuộc triển lãm bế mạc đã để lại trong lòng mọi người những dư âm của một thành công toàn diện. Dưới sự dìu dắt khéo léo của họa sĩ Victor Tardieu, những tài năng Việt Nam có dịp thức tỉnh và sinh hoạt, không phải hoàn toàn theo kiểu Âu châu, mà là theo một nếp sống Á châu đổi mới. Họ đã khai sinh cho một kỷ nguyên. Môn phái hội họa này, từ nay chúng ta có thể gọi là “môn phái An Nam”, sẽ làm giàu cho Viễn Đông bằng những tác phẩm cấu tạo theo cảm xúc của người An Nam thế kỷ XX...”.
Thế nhưng, phải hai ba chục năm sau, những nhà sưu tập đầu tiên của Việt Nam mới xuất hiện. Trong bài viết Chuyện kể về ông Đức Minh, họa sĩ Bùi Thanh Phương nhớ lại: “Đầu những năm 1960, ông Đức Minh xuất hiện và bắt đầu mua tranh của các họa sĩ nhằm bổ sung vào bộ sưu tập mà trước đó ông đã có với số tranh rất có giá trị nhưng chưa nhiều. Đó là những bức ông mua trong chuyến đi Pháp, như: Chơi ô ăn quan của Nguyễn Phan Chánh và Thiếu nữ bên cây phù dung của Nguyễn Gia Trí và một bức của danh họa thế giới Fujita (một họa sĩ người Nhật Bản, nhưng sống, làm việc và nổi danh tại Paris). Bức Bên hoa huệ ông Đức Minh mua từ thời Pháp chiếm Hà Nội”. Cũng Bùi Thanh Phương cho biết những tác phẩm mà ông Đức Minh sưu tập thường khác với xu thế sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ này, nên người xem thích, vì các bộ sưu tập phong phú. Trong khoảng nhiều năm sau đó, tại ngôi biệt thự bên hồ Thuyền Quang, bộ sưu tập tư nhân đầu tiên với đầy đủ các anh hào của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã được mở cửa giới thiệu với công chúng.

Nhà sưu tập Lê Thái Sơn cho biết: “Trừ ông Đức Minh ra, ở Việt Nam chưa ai xứng danh với tên gọi nhà sưu tập đúng nghĩa, bản thân tôi rất xấu hổ khi được gọi là nhà sưu tập. Tôi cho rằng trong mỗi thế hệ, chỉ có vài người thực sự có hiểu biết về tranh, phân biệt được tranh đẹp - xấu, giả - thật… nhưng họ thường nặng về chuyện mua bán, dù ý thức sưu tập vẫn có. Tôi cũng thuộc kiểu vừa mua bán vừa sưu tập, nên chỉ xứng với cái tên môi giới nghệ thuật mà thôi. Lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam từ 1925 đến 2010, người sưu tập kể tên ra nghe có vẻ nhiều, nhưng phần lớn bị nạn tranh giả lèo lái, lộng hành, chỉ có một số rất ít trụ lại được”.
