Công nghệ chưa bao giờ là khái niệm xa lạ với thể thao. Thể thao đỉnh cao thường là điểm đến đầu tiên, thậm chí ở giai đoạn thử nghiệm, của quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, rào cản ngân sách luôn có thể biến chuyển đổi số thành một "bài toán khó" cho thể thao Việt Nam.
Công nghệ chưa bao giờ là khái niệm xa lạ với thể thao. Thể thao đỉnh cao thường là điểm đến đầu tiên, thậm chí ở giai đoạn thử nghiệm, của quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, rào cản ngân sách luôn có thể biến chuyển đổi số thành một "bài toán khó" cho thể thao Việt Nam.
Trong thể thao hiện đại, các yếu tố công nghệ luôn được áp dụng từ rất sớm. Từ thiết bị đeo thông minh, cảm biến IoT, phần mềm phân tích video chiến thuật cho đến công nghệ 3D hay trí tuệ nhân tạo (AI) trong y học và phục hồi chấn thương, khoa học đã trở thành trợ thủ đắc lực giúp tối ưu hóa thành tích thi đấu cho VĐV và ngày càng đóng vai trò quyết định ở góc độ chiến thuật trong huấn luyện, thi đấu.
Trên thực tế, ngay từ khi hội nhập với thể thao thế giới, ngành thể thao Việt Nam (TTVN) cũng đã từng bước số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu thành tích và quản lý HLV, VĐV trên nền tảng số. Tuy nhiên, câu chuyện không nằm ở việc chúng ta có ý thức hay nắm bắt được tầm quan trọng của việc chuyển đổi số hay không, mà là ở phạm vi, mức độ, thậm chí là tầng nấc thực hiện, bởi bài toán khó nhất với TTVN là rào cản tài chính.
Nguồn ngân sách vận hành của các bộ môn, Liên đoàn hay đội tuyển vốn đã phải "cân đo đong đếm" cho công tác tập huấn, thi đấu truyền thống. Ngay mức thu nhập, bồi dưỡng huấn luyện còn phải "nâng lên, đặt xuống", chưa nói đến chế độ dinh dưỡng hay thu nhập thực tế.
Trong bối cảnh đó, việc đầu tư kinh phí lớn cho hạ tầng máy chủ, hệ thống quản lý chuyên dụng hay thiết bị đo đạc chuẩn quốc tế thường bị coi là khoản chi phí "xa xỉ".
Sự thiếu hụt nguồn lực tài chính cùng chính sách chưa đồng bộ khiến hàm lượng công nghệ trong huấn luyện TTVN nhìn chung còn thấp, đầu tư vào dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Thế nên, chuyển đổi số trong TTVN có lẽ nên áp dụng ngay từ sớm cho một lĩnh vực thiết thực, gần gũi, dễ vận hành: Tập trung mạnh mẽ vào khâu tiếp thị (marketing), quản trị hình ảnh và truyền thông.

Thể thao đỉnh cao thường là điểm đến đầu tiên của quá trình chuyển đổi số. Ảnh: Hoàng Linh
Công nghệ hiện đại cho phép kết nối sâu sắc và thúc đẩy sự tiếp cận của người hâm mộ với các ngôi sao thể thao. Sự phổ biến của các thiết bị đo đeo cá nhân, ứng dụng di động, GPS và Smart Gym đang làm mờ ranh giới về dữ liệu vận động giữa một người tập luyện phong trào với một VĐV đỉnh cao.
Khán giả khi theo dõi trận đấu không chỉ xem diễn biến thuần túy mà còn có thể theo dõi nhịp tim, tốc độ bứt tốc hay khối lượng vận động của tuyển thủ theo thời gian thực (real-time). Sự tương tác dữ liệu này tạo ra cảm giác gần gũi, gia tăng mức độ gắn kết và tình cảm của công chúng dành cho giải đấu.
Theo dự báo, thị trường công nghệ thể thao toàn cầu sẽ tăng trưởng mạnh từ 12,25 tỷ USD (năm 2022) lên 47,25 tỷ USD vào năm 2029. Tại Việt Nam, với khoảng 40.000 giải thể thao lớn nhỏ diễn ra mỗi năm, dư địa phát triển kinh tế thể thao từ chuyển đổi số là vô cùng tiềm năng.
Có lẽ, việc chuyển đổi số trong thể thao nếu nói riêng ở lĩnh vực tài chính, thương mại thì "1 mũi tên trúng 2 đích". Việc áp dụng không quá phức tạp, có thể thực hiện từ chính VĐV đến nhà quản lý, có thể tạo nguồn thu ngắn và dài hạn.
Khi dữ liệu được coi là nguồn lực và trải nghiệm người hâm mộ được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, TTVN sẽ giải được bài toán "dòng tiền" cho chính công cuộc chuyển đổi số của cả nền thể thao.
Minh chứng rõ nét là mô hình số hóa tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Việc đưa hệ thống quản lý dữ liệu tập trung, cập nhật lịch thi đấu, kết quả thời gian thực và mở rộng kênh tương tác trực tuyến cho khán giả đã chứng minh công nghệ có khả năng nâng cao trải nghiệm người xem và hiện đại hóa hình ảnh giải đấu.
Khi kết nối và vận hành thành công chuỗi chuyển đổi số trong truyền thông và tiếp thị, thể thao sẽ nắm giữ tài sản giá trị nhất trong kỷ nguyên số: User (người dùng/tài khoản) và đi kèm là dữ liệu hành vi tương tác.
Quan trọng hơn, trên cùng một nền tảng dữ liệu, người làm thể thao đỉnh cao có thể thương mại hóa nội dung số. Ngắn hạn thì quảng cáo cho bên thứ 3, thu phí nội dung. Dài hạn thì khai thác bản quyền truyền thông trên các nền tảng OTT, gói hội viên trực tuyến, sản phẩm thể thao số.