thethaovanhoa.vn

Chữ và nghĩa: Từ "tú tài" cho đến "sinh đồ"

Lê Minh Quốc 21/01/2026 18:00 GMT+7

Trần Tế Xương (1870 - 1907) thường gọi là Tú Xương, người làng Vị Xuyên, Mỹ Lộc, Nam Định (cũ), được đời sau truyền tụng qua 2 câu thơ - tương truyền là của Nguyễn Khuyến: "Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn".

Trần Tế Xương (1870 - 1907) thường gọi là Tú Xương, người làng Vị Xuyên, Mỹ Lộc, Nam Định (cũ), được đời sau truyền tụng qua 2 câu thơ - tương truyền là của Nguyễn Khuyến: "Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn".

Xem chuyên đề Chữ và nghĩa TẠI ĐÂY

Lời tiên đoán này quả là không sai. Không cần sống nhiều, chỉ tồn tại trên trần gian này 37 năm, nhưng Tú Xương lại thọ, rất thọ nữa là khác. Trong thế kỷ 20, trên trường văn trận bút có nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học bằng chữ "Tú" của Tú Xương. Nên có lẽ ông là người có nhiều "môn đệ" nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: Chỉ có một mình - Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Khờ, Tú Da, Tú Poanh... rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Rua (Trần Ngọc Bảo), Tú Hói (Xuân Thiều)... cũng tiếp bước đi theo con đường nghệ thuật của ông.

Thử hỏi, "tú" là gì?

Trong ngữ cảnh này, tú là viết tắt của tú tài, với tú nghĩa là ưu tú, còn tài là tài năng; "Một bậc đỗ về khoa thi hương dưới bậc cử nhân" - theo Việt Nam tự điển (1931). Ngoài ra còn có "tú kép" là người 2 lần đỗ tú tài thi hương; "tú mềm" là người 3 lần đỗ tú tài; "tú đụp" là người 4 lần đỗ tú tài. Tú tài là tên gọi từ thời nhà Nguyễn, trước đó, đời nhà Lê gọi là sinh đồ.

Chữ và nghĩa: Từ "tú tài" cho đến "sinh đồ" - Ảnh 1.

Tranh minh hoạ: Internet

Thành ngữ có câu "Sinh đồ ba quan", ta hiểu thế nào cho đúng?

"Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú cho biết, vào đời nhà Lê: "Năm 1750, cho mọi người nộp tiền vào thi hương. Trước đây, khi mới trung hưng, mỗi người đi thi nộp 5 tiền gọi là "tiền thông kinh", để chi tiền ăn cho hiệu quan ở huyện. Từ thời Thái Bảo thi hành phép điệu, phí tổn về tiền thi đều lấy ở tiền công, "tiền thông kinh" này cũng nộp nhưng để chi phí vào việc làm trường và sắm đồ dùng cho quan trường".

Trong thời điểm này, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra như Hoàng Công Chất, Quận He Nguyễn Hữu Cầu, Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương… Chiến tranh liên miên, kho ngân quỹ của triều đình ngày càng kiệt quệ. Đến bấy giờ, Thự phủ Đỗ Thế Giai cho rằng dụng binh tiêu phí nhiều, tiền tài nhà nước thiếu thốn, cho mỗi người nộp tiền 3 quan, không phải khảo hạch, đều được vào thi, cũng gọi là "tiền thông kinh".

Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả. Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường. Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, thay nhau làm bậy, không còn biết phép thi là gì.

Sự việc tồi tệ này diễn ra vào lúc Minh Vương Trịnh Doanh đem quân đi đánh dẹp Nguyễn Doanh Phương. Lúc thắng trở về, nghe xôn xao trong dư luận sự việc nhố nhăng này, ông giận quá bắt các cống sĩ phải thi lại hết. Kết quả là hơn phân nửa rớt như sung rụng. Các quan viên đề điệu, giám thí, giám khảo đều bị giáng và bãi chức. Từ đó, trong dân gian mới có câu mỉa mai "Sinh đồ ba quan" là vậy.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN