thethaovanhoa.vn

Chuyện về một tác phẩm giao hưởng

Nguyễn Quang Long 27/10/2026 19:01 GMT+7

Có một thực tế vẫn đang tồn tại trong đời sống âm nhạc Việt Nam là những tác phẩm thuộc thể loại giao hưởng, thính phòng thường ít có cơ hội tiếp cận công chúng hơn so với các tác phẩm thuộc thể loại ca khúc.

Có một thực tế vẫn đang tồn tại trong đời sống âm nhạc Việt Nam là những tác phẩm thuộc thể loại giao hưởng, thính phòng thường ít có cơ hội tiếp cận công chúng hơn so với các tác phẩm thuộc thể loại ca khúc. Cho nên có một tác phẩm giao hưởng, dù đã ra đời từ năm 2010, từng được công diễn ở cả Hà Nội và quốc tế, nhưng với nhiều công chúng yêu dòng nhạc này và thậm chí cả những người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, vẫn còn khá mới mẻ.

Tác phẩm Dòng chảy Thăng Long của nhạc sĩ Lê Bằng được chọn làm tác phẩm mở đầu chương trình hòa nhạc Bản giao hưởng Hà Nội tại Nhà hát Hồ Gươm dịp 10/10 vừa qua là một trường hợp như vậy.

Chuyện về một tác phẩm giao hưởng - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Lê Bằng

Một tác phẩm lớn bắt đầu từ một mô típ nhỏ

Dòng chảy Thăng Long là tác phẩm thuộc thể loại giao hưởng có bố cục gồm 3 phần, có thể coi là một overture. Khi thưởng thức trong chương trình hòa nhạc Bản giao hưởng Hà Nội ngày 10/10/2026, ấn tượng đầu tiên của tôi là tác phẩm có tính hấp dẫn, gây được sự chú ý ngay từ những âm thanh đầu tiên.

Dòng chảy Thăng Long bắt đầu từ một mô-típ âm nhạc ngắn gồm 4 nốt. Giai điệu mở đầu bằng 2 bước nhảy xa theo hướng đi lên, lần lượt là quãng 4 và quãng 5, trước khi chuyển hướng bằng một quãng 3 thứ đi xuống. Cách tổ chức đường nét ấy tạo nên cảm giác âm nhạc vừa hướng lên, vừa có điểm tựa để trở lại, đủ ngắn gọn để người nghe ghi nhận nhưng cũng đủ sức gợi mở cho sự phát triển tiếp theo.

Mô-típ này xuất hiện trong âm lượng lớn của toàn bộ dàn nhạc với sự nổi bật của bộ dây và bộ đồng. Âm thanh mạnh mẽ, trang trọng khiến người nghe dễ liên tưởng đến tiếng hiệu triệu, đồng thời gợi mở một câu chuyện lịch sử. Đó là cảm nhận của người viết xuất hiện từ chính đường nét giai điệu và cách phối khí cho dàn nhạc.

Điểm đáng chú ý là mô-típ 4 nốt mở đầu chính là chất liệu âm nhạc chủ đạo xuyên suốt tác phẩm. Nhờ vậy, sự thống nhất của Dòng chảy Thăng Long không chỉ được tạo nên bởi chủ đề lịch sử hay tên gọi, mà còn nằm trong cách tổ chức và phát triển chất liệu âm nhạc.

Chuyện về một tác phẩm giao hưởng - Ảnh 2.

Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam và nhạc trưởng Honna Tetsuji trong chương trình hòa nhạc Bản giao hưởng Hà Nội

Sau lần xuất hiện đầu tiên, mô-típ được nhắc lại thông qua thủ pháp mô tiến (chuỗi giai điệu tịnh tiến), trước khi âm nhạc chuyển sang giai đoạn phát triển tiếp theo. Việc lặp lại có tổ chức giúp người nghe nhận diện chất liệu, đồng thời tạo đà cho sự vận động của toàn bộ tác phẩm. Sự nổi bật của nhạc khí thuộc bộ dây và bộ đồng tạo nên âm hưởng hùng tráng. Khi cường độ giảm xuống, âm nhạc mở ra một tương phản rõ rệt với phần trình bày mạnh mẽ trước đó. Sự đối lập về âm lượng và sắc thái không chỉ tạo hiệu quả biểu diễn mà còn góp phần làm nổi bật khả năng biến đổi của chất liệu chủ đạo.

"Chất liệu dân gian trong sáng tác giao hưởng không nhất thiết phải hiện diện dưới dạng một giai điệu được dẫn nguyên vẹn. Nó cũng có thể tham gia vào việc hình thành đường nét, sắc thái, nhịp điệu hoặc cách tổ chức âm nhạc" - nhạc sĩ, nhà phê bình Nguyễn Quang Long.

Trong toàn bộ sự phát triển của tác phẩm, mô-típ mở đầu vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, âm nhạc có những phát triển mạnh mẽ, có những dấu hiệu của âm nhạc giao hưởng thời kỳ cổ điển, đồng thời có cả những âm thanh gợi mở sự gần gũi trong thẩm mỹ của người Việt Nam.  

Ký ức hòa cùng ngôn ngữ giao hưởng

Chia sẻ về ý tưởng sáng tác, nhạc sĩ Lê Bằng cho biết anh muốn phác họa hình ảnh dòng sông Hồng cùng lịch sử hào hùng của Thăng Long - Hà Nội. Theo anh, thời gian là một dòng chảy; những biến đổi của lịch sử không xóa đi những gì đã qua mà còn lưu giữ chúng như những chứng nhân, ghi lại hình ảnh và ký ức của từng thời đại.

Cách hình dung ấy tạo nên điểm gặp gỡ giữa ý tưởng của tác giả và cấu trúc âm nhạc. Nếu dòng chảy lịch sử được hình dung như sự tiếp nối qua nhiều thời kỳ, thì việc một mô-típ ngắn xuyên suốt tác phẩm có thể đem đến cảm giác về tính liên tục. Từ chất liệu ban đầu, âm nhạc vận động qua những biến đổi về sắc thái, cường độ và màu sắc dàn nhạc, tạo nên một chỉnh thể thay vì một chuỗi hình ảnh rời rạc.

Chuyện về một tác phẩm giao hưởng - Ảnh 4.

Hiệu quả biểu đạt còn ở cách tác giả phát triển chất liệu, tổ chức hình thức và xây dựng tương quan giữa các nhóm nhạc cụ. Nhưng trong trường hợp Dòng chảy Thăng Long, mô-típ 4 nốt mở đầu là một điểm tựa rõ ràng để người nghe nhận biết mạch vận động của tác phẩm.

Lê Bằng cho biết anh muốn đưa chất liệu âm nhạc dân gian vào ngôn ngữ giao hưởng. Trong quá trình lắng nghe, một số nét giai điệu và sắc thái âm nhạc có thể gợi liên tưởng đến mối tương quan với thẩm mỹ âm nhạc cách mạng, tạo nên sự quen thuộc, từ đó đánh thức cảm nhận về Hà Nội trong những năm tháng lịch sử nhiều thử thách. Đây là liên tưởng của tác giả, không nhất thiết mặc định với tất cả công chúng, đồng thời cũng không đồng nghĩa với việc tác phẩm trích dẫn trực tiếp một làn điệu dân gian hay một ca khúc cụ thể.

Sự phân biệt này có ý nghĩa khi bàn về chất liệu truyền thống trong sáng tác giao hưởng. Chất liệu dân gian không nhất thiết phải hiện diện dưới dạng một giai điệu được dẫn nguyên vẹn. Nó cũng có thể tham gia vào việc hình thành đường nét, sắc thái, nhịp điệu hoặc cách tổ chức âm nhạc. Điều cần xem xét là chất liệu ấy được chuyển hóa như thế nào trong chỉnh thể mới, chứ không chỉ là người nghe có nhận ra một âm hưởng quen thuộc hay không.

Ở Dòng chảy Thăng Long, ấn tượng về âm nhạc giao hưởng được tạo nên khá rõ qua cách sử dụng các nhóm nhạc cụ, đặc biệt là các bộ dây, đồng và gõ. Sự tương phản về cường độ, cách nhắc lại và phát triển mô-típ, cùng những đường giai điệu tương đối dễ tiếp nhận, giúp tác phẩm kết hợp được tư duy tổ chức âm nhạc giao hưởng với khả năng gợi liên tưởng từ những âm hưởng gần gũi.

Và câu chuyện về cơ hội biểu diễn

Dòng chảy Thăng Long không phải sáng tác mới, tác phẩm ra đời năm 2010 với tên gọi ban đầu là Dòng chảy nghìn năm, trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tác phẩm được Dàn nhạc giao hưởng Rouen của Pháp biểu diễn lần đầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội dưới sự chỉ huy của Claude Bendel. Năm 2011, dàn nhạc này tiếp tục trình diễn tác phẩm tại Rouen, Pháp, trong một chương trình kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà soạn nhạc Franz Liszt. Năm 2010, tác phẩm cũng nhận Giải thưởng Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Chuyện về một tác phẩm giao hưởng - Ảnh 5.

Như vậy, từ khi ra đời, tác phẩm đã có cơ hội được trình diễn cả trong nước và ở nước ngoài. Tuy nhiên, phải tới chương trình Bản giao hưởng Hà Nội 2026 người viết mới có dịp thưởng thức tác phẩm này. Nhạc sĩ Giáng Son cũng vậy. Chị có ấn tượng tốt với tác phẩm, đồng thời chị cũng bày tỏ mong muốn được nghe lại sau lần thưởng thức tại buổi hòa nhạc.

Theo Lê Bằng, những năm gần đây, hoạt động biểu diễn khí nhạc nói chung, giao hưởng nói riêng có những chuyển biến tích cực. Các chương trình hòa nhạc được tổ chức thường xuyên hơn, khán giả quan tâm nhiều hơn, trong đó có cả người trẻ. Anh xem đây là tín hiệu đáng mừng đối với đời sống âm nhạc hàn lâm. Dù vậy, theo nhạc sĩ, các tác phẩm khí nhạc và giao hưởng vẫn chưa có nhiều cơ hội được trình diễn trước công chúng. Không phải nhà soạn nhạc nào cũng có điều kiện tự tổ chức một chương trình riêng, bởi việc thực hiện đòi hỏi thời gian, công sức sáng tạo, lực lượng biểu diễn và kinh phí đáng kể.

Đây cũng là 1 trong những nguyên nhân khiến không nhiều nhạc sĩ trẻ lựa chọn sáng tác giao hưởng, thính phòng. So với ca khúc, những thể loại này thường cần nguồn lực lớn hơn để hoàn thiện và đưa tác phẩm đến với người nghe. Nếu thiếu môi trường công diễn, tác phẩm khó có cơ hội được kiểm nghiệm trong thực tế biểu diễn, còn công chúng cũng ít điều kiện hình thành thói quen tiếp nhận.

Trường hợp Dòng chảy Thăng Long cho thấy một tác phẩm có thể được hình thành từ một ý tưởng rõ ràng, có chất liệu chủ đạo xuyên suốt và từng được biểu diễn trong những bối cảnh đáng chú ý, nhưng hành trình đến với công chúng vẫn cần được tiếp tục. Việc đưa tác phẩm trở lại sân khấu sau nhiều năm không chỉ giúp người nghe có thêm cơ hội khám phá sáng tác của Lê Bằng, mà còn góp phần làm phong phú đời sống biểu diễn khí nhạc Việt Nam.

Vài nét về nhạc sĩ Lê Bằng

Nhạc sĩ Lê Bằng sinh năm 1983, theo học âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam từ năm 13 tuổi. Năm 2014, anh tốt nghiệp thạc sĩ loại xuất sắc chuyên ngành sáng tác dưới sự hướng dẫn của PGS-TS, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.

Hiện đang là giảng viên chuyên ngành piano jazz tại Nhạc viện TP.HCM và chuyên ngành sáng tác tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN