Chuyển đổi số càng có ý nghĩa khi khảo cổ học gắn với những nguồn tư liệu có tính đặc thù, nhiều trường hợp mang giá trị độc bản.
Chuyển đổi số càng có ý nghĩa khi khảo cổ học gắn với những nguồn tư liệu có tính đặc thù, nhiều trường hợp mang giá trị độc bản.
"Công nghệ phải phục vụ cho câu hỏi khảo cổ học và giúp chúng ta kiểm chứng những giả thuyết khoa học bằng nguồn dữ liệu mới". Nhận định của PGS-TS Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, tại Hội thảo Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2026 (ngày 15/10) mở ra một yêu cầu quan trọng với khảo cổ học Việt Nam: tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số để nâng cao chất lượng, cũng như khai thác hết giá trị của các nghiên cứu.
Bước sang lần tổ chức thứ 61, diễn đàn khoa học thường niên này tiếp tục giới thiệu nhiều kết quả điều tra, khảo sát, khai quật và nghiên cứu mới trên cả nước. Tại đó, các báo cáo đã cho thấy việc kết hợp các phương pháp khảo cổ truyền thống với công nghệ, khoa học trong năm qua ở nhiều trường hợp.

PGS.TS Hà Văn Cẩn phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN
Đơn cử, tại Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), công nghệ LiDAR (đo khoảng cách bằng tia laser) được ứng dụng trong khảo sát dữ liệu kết hợp với khai quật và phân tích mẫu thực vật để nghiên cứu các di tích. Tại Cổ Loa (Hà Nội), các nghiên cứu về hào thành, góc thành và dấu tích kiến trúc cũng gắn với định hướng xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS), phục vụ nghiên cứu cấu trúc phòng thủ và quá trình biến đổi không gian di tích. Tại Đà Nẵng, việc ứng dụng GIS trong nghiên cứu hệ thống văn khắc và bia ký ngoài trời cũng mở ra khả năng kết nối tư liệu văn khắc với vị trí, cảnh quan và mạng lưới di tích ở đây.
Tương tự, trong lĩnh vực khảo cổ học dưới nước, việc phân tích mẫu thực vật được áp dụng với các hiện vật lấy từ thuyền cổ Hà Mãn (Bắc Ninh) hay tàu đắm Cù Lao Chàm (Đà Nẵng) để bổ sung nguồn tư liệu phục vụ tìm hiểu lịch sử tàu thuyền và giao thương. Hoặc, nhiều báo cáo cũng đề cập tới việc ứng dụng nhiều phương pháp khoa học và công nghệ như phân tích C14, bào tử phấn hoa, thạch học, thành phần hợp kim, GIS, LiDAR và mô hình hóa 3D trong nghiên cứu công cụ đá, di tích, di cốt người và động vật - tất cả nhằm mở rộng khả năng tiếp cận và phân tích các nguồn tư liệu khảo cổ học.

Đại biểu tìm hiểu về những phát hiện và kết quả nghiên cứu tại Hội thảo. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN
Thực tế, việc ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào nghiên cứu khảo cổ đã được triển khai từ nhiều năm qua. Nhưng với sự phát triển của công nghệ số và nguồn tư liệu ngày càng phong phú, các ứng dụng này tiếp tục được mở rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu kết hợp chặt chẽ hơn giữa các phương pháp nghiên cứu, đẩy mạnh số hóa và kết nối dữ liệu để phục vụ nghiên cứu liên ngành.
Đặc biệt, chuyển đổi số càng có ý nghĩa khi khảo cổ học gắn với những nguồn tư liệu có tính đặc thù, nhiều trường hợp mang giá trị độc bản. Các di tích, di vật và nhất là thông tin về bối cảnh phát hiện có thể không còn nguyên vẹn sau quá trình khai quật hoặc trước những biến đổi của môi trường. Trong khi đó, hồ sơ địa tầng, bản vẽ, hình ảnh, mẫu phân tích và kết quả nghiên cứu được tích lũy qua nhiều thế hệ là nguồn tư liệu quý giá, có thể tiếp tục phục vụ các ngành khoa học như lịch sử, nhân học, địa chất, cổ môi trường...
Như một số chia sẻ tại hội thảo, từ những ứng dụng đã có, chuyển đổi số trong khảo cổ học cần tiếp tục hướng tới xây dựng hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối, truy xuất và đối chiếu, thay vì dừng ở việc chuyển tài liệu sang dạng số. Yêu cầu này đòi hỏi đổi mới cách tổ chức nghiên cứu, từ đặt vấn đề, lựa chọn mẫu, phối hợp liên ngành đến kiểm chứng kết quả. Những mô hình trực quan và kết quả xử lý số cũng cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu tin cậy, với quy trình thực hiện và giới hạn diễn giải rõ ràng.
Những hoạt động và yêu cầu ấy chính là sự cụ thể hóa từ định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đặt ra các nhiệm vụ, giải pháp: "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ số"; "Xây dựng và dùng chung các nền tảng số quốc gia, vùng, bảo đảm hoạt động thống nhất, liên thông của các ngành, lĩnh vực trên môi trường số".