thethaovanhoa.vn

Sáng kiến mở đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (kỳ 1): Kiến tạo mạng lưới, hợp lực phát triển

Công Bắc 15/10/2026 06:25 GMT+7

Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ cần nguồn lực đầu tư và sức sáng tạo, mà còn đòi hỏi sự kết nối, hợp lực để chuyển hóa tiềm năng thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Trong đó, sự hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh.

Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ cần nguồn lực đầu tư và sức sáng tạo, mà còn đòi hỏi sự kết nối, hợp lực để chuyển hóa tiềm năng thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Trong đó, sự hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh.

Tinh thần hợp lực này được cụ thể hóa qua Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam vừa được Bộ VH,TT&DL ra mắt mới đây tại Hà Nội. Tại sự kiện, Bộ cũng công bố 17 sáng kiến phát triển công nghiệp văn hóa năm 2026.

Kết nối nguồn lực, tạo hợp tác thực chất

Sự ra đời của Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam diễn ra trong bối cảnh những chủ trương, chính sách về phát triển văn hóa đang được đẩy mạnh triển khai, nhất là Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Cùng với yêu cầu hoàn thiện thể chế, tăng cường đầu tư và huy động nguồn lực xã hội, vấn đề đặt ra là xây dựng những phương thức hợp tác hiệu quả để kết nối Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo, từng bước chuyển hóa những tiềm năng, lợi thế về văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và động lực tăng trưởng.

Sáng kiến mở đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (kỳ 1): Kiến tạo mạng lưới, hợp lực phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Lâm Thị Phương Thanh phát biểu

Phát biểu tại lễ ra mắt, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, kỷ nguyên mới đang đặt ra sứ mệnh hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có sự hội tụ giữa văn hóa, thể thao và du lịch, mang bản sắc được kết tinh từ truyền thống cùng những giá trị tốt đẹp của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử, đồng thời có thương hiệu và sức cạnh tranh quốc tế.

Theo Bộ trưởng, công nghiệp văn hóa phải góp phần chuyển hóa bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam thành sản phẩm, việc làm và động lực tăng trưởng; đồng thời bồi đắp niềm tự hào dân tộc, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam và các sản phẩm "Make in Vietnam" trên trường quốc tế. Hướng phát triển được xác định là thúc đẩy sự hội tụ giữa văn hóa, thể thao, du lịch với công nghệ và trí tuệ nhân tạo, lấy bản sắc Việt Nam làm giá trị cốt lõi.

Tuy nhiên, điều được Bộ trưởng đặc biệt nhấn mạnh không chỉ là mục tiêu phát triển, mà còn ở phương thức hợp tác và yêu cầu chuyển những định hướng thành hành động cụ thể. "Bộ nêu bài toán và lắng nghe; doanh nghiệp đề xuất giải pháp; các bên tìm đối tác, nhận việc và thống nhất thời hạn" - Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tinh thần này cũng là cơ sở hình thành Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, hướng tới kết nối những nguồn lực và năng lực sáng tạo còn phân tán, tạo điều kiện để các chủ thể tham gia quá trình phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường.

Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: "Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam cần giúp được người có ý tưởng gặp người có công nghệ, có vốn, có thị trường; kết nối doanh nghiệp với nghệ sĩ, nhà trường và các thiết chế văn hóa. Mỗi thành viên mang đến một năng lực, cùng nhau tạo nên những sản phẩm mà riêng từng bên khó thực hiện. Và chúng ta muốn đi xa thì sẽ phải đi cùng nhau".

Trao đổi với Thể thao và Văn hóa (TTXVN), ông Trần Hoàng (Cục trưởng Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả) cho biết, việc hình thành Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam xuất phát từ mong muốn tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp và nhà sáng tạo, tạo không gian để các bên chia sẻ thông tin, phối hợp triển khai những chương trình, dự án và sáng kiến lớn.

Theo ông, bên cạnh việc ghi nhận những đóng góp và lắng nghe khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, Bộ VH,TT&DL mong muốn thúc đẩy hoạt động hợp tác thực chất, tạo điều kiện để các chủ thể có thế mạnh khác nhau cùng tham gia giải quyết những bài toán phát triển công nghiệp văn hóa.

Từ đó, mạng lưới được kỳ vọng không chỉ là nơi tập hợp doanh nghiệp, mà còn trở thành phương thức huy động, kết nối nguồn lực xã hội, trong đó doanh nghiệp chủ động đề xuất sáng kiến, xây dựng giải pháp, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường.

Đặc biệt, theo Cục trưởng Trần Hoàng, việc ra mắt mạng lưới mới chỉ là bước khởi đầu. Từ những bài toán được đặt ra, Bộ VH,TT&DL sẽ từng bước thu hút thêm doanh nghiệp, nhà sáng tạo tham gia, nhất là những đơn vị có khả năng dẫn dắt, tạo cơ hội để nhiều chủ thể khác cùng hợp tác và phát triển.

Sáng kiến mở đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (kỳ 1): Kiến tạo mạng lưới, hợp lực phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh 2.

17 sáng kiến phát triển công nghiệp văn hóa năm 2026

"Bài toán mở"… lấy kết quả thực tiễn làm thước đo

Để những kết nối phát huy hiệu quả, một trong những phương thức hợp tác được giới thiệu tại lễ ra mắt là mô hình "1 + 1 + N", hướng tới kết hợp nguồn lực của doanh nghiệp lớn với năng lực đổi mới sáng tạo và sự tham gia của cộng đồng trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Theo mô hình, một doanh nghiệp lớn có nguồn lực, kinh nghiệm quản trị, hạ tầng và thị trường sẽ kết hợp với một doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có ý tưởng, công nghệ hoặc giải pháp mới, cùng sự tham gia của nhiều chủ thể trong cộng đồng. Trong đó, doanh nghiệp lớn được kỳ vọng giữ vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện để những doanh nghiệp vừa và nhỏ, các đơn vị khởi nghiệp và chủ thể sáng tạo có cơ hội tham gia những chuỗi giá trị có quy mô lớn hơn.

Từ kinh nghiệm của các tập đoàn công nghệ quốc tế, các chuyên gia cho rằng, xung quanh những doanh nghiệp lớn thường hình thành mạng lưới đối tác, đơn vị cung ứng và doanh nghiệp phụ trợ. Sự phát triển của một doanh nghiệp dẫn dắt có thể kéo theo hoạt động của nhiều doanh nghiệp khác, tạo nên hệ sinh thái có khả năng mở rộng quy mô sản xuất và thị trường.

Đối với công nghiệp văn hóa, phương thức hợp tác này càng có ý nghĩa khi một sản phẩm có thể đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, từ nghệ sĩ, nhà sản xuất nội dung, doanh nghiệp công nghệ, nhà đầu tư đến đơn vị phân phối và những người phát triển sản phẩm phái sinh. Khi được kết nối trong một chuỗi giá trị, các bên có thể phát huy thế mạnh, cùng tham gia sáng tạo, sản xuất và khai thác giá trị kinh tế của sản phẩm.

Trong sự liên kết này, Nhà nước phát huy vai trò kiến tạo, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi; doanh nghiệp chủ động huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường; còn cộng đồng sáng tạo đóng góp tri thức, tài năng và những giá trị văn hóa để cùng hình thành sản phẩm.

Tuy nhiên, để mô hình hợp tác không dừng ở định hướng chung, cần xác định những vấn đề cụ thể có khả năng quy tụ nguồn lực và tạo ra tác động đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Đây cũng là cơ sở để Bộ VH,TT&DL lựa chọn những sáng kiến trọng tâm, mời gọi doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia giải quyết.

Sáng kiến mở đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (kỳ 1): Kiến tạo mạng lưới, hợp lực phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh 3.

Show thực cảnh “Long Mạch Na Hang” kết hợp âm thanh, ánh sáng, đồ họa và nhạc nước đem lại nhiều ấn tượng. Ảnh: Khánh Hòa

Theo Cục trưởng Trần Hoàng, các sáng kiến được lựa chọn phải có tầm ảnh hưởng, khả năng tạo tác động lớn đến sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời tạo nền tảng, bệ phóng để doanh nghiệp phát triển sản phẩm.

Trong đó, những nguồn dữ liệu về di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được xác định là chất liệu quan trọng phục vụ sáng tạo; cùng với đó là yêu cầu hình thành không gian giao dịch tài sản trí tuệ, kết nối doanh nghiệp với những chủ thể có ý tưởng và sản phẩm sáng tạo.

Trên cơ sở này, Bộ VH,TT&DL đã công bố 17 sáng kiến phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam năm 2026, trải rộng từ xây dựng hạ tầng dữ liệu, phát triển nền tảng sáng tạo đến hình thành sản phẩm, thương hiệu và mở rộng thị trường.

Điểm đáng chú ý trong các sáng kiến này không chỉ nằm ở sự đa dạng của các lĩnh vực, mà còn ở khả năng liên kết, bổ trợ giữa những sáng kiến. Các nền tảng dữ liệu và công nghệ có thể tạo điều kiện cho nhiều chủ thể cùng khai thác, sáng tạo, trong khi những sáng kiến về sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu hướng tới phát triển thị trường, mở rộng khả năng tạo ra giá trị kinh tế từ văn hóa.

Quan trọng hơn, đây không phải những công việc mà Nhà nước sẽ tự mình thực hiện, mà là những "bài toán mở", khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư, nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà khoa học và cộng đồng sáng tạo.

Từ những bài toán ban đầu, Bộ VH,TT&DL sẽ tiếp tục cụ thể hóa thành các chương trình, dự án và sản phẩm phù hợp, nhất là tại những lĩnh vực trọng điểm đã được xác định trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Song, thước đo quan trọng nhất đối với những sáng kiến không chỉ là khả năng thu hút nguồn lực hay hình thành các nhóm hợp tác, mà còn ở kết quả thực hiện. Trong đó, mỗi nhóm cần xác định rõ công việc, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm của các bên tham gia và tiến độ triển khai, hướng tới tạo ra những giá trị có thể được kiểm chứng trên thị trường.

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh: "Ngay trong năm 2026, chúng ta cần có những kết quả đầu tiên: Sản phẩm ra thị trường, doanh thu cho doanh nghiệp, thu nhập cho người sáng tạo và thêm cơ hội thụ hưởng văn hoá cho người dân. Mỗi nhóm hợp tác cần xác định rõ sản phẩm, người chịu trách nhiệm và thời điểm hoàn thành. Bộ sẽ đồng hành, kết nối nguồn lực và tháo gỡ vướng mắc trong phạm vi trách nhiệm của mình".

Thông điệp này cho thấy hiệu quả của Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam không chỉ được đánh giá qua số lượng doanh nghiệp tham gia, sáng kiến được đề xuất hay quy mô đầu tư, mà phải được thể hiện bằng những sản phẩm được thị trường đón nhận, tạo ra giá trị kinh tế và lợi ích cho cộng đồng.

Đặc biệt, từ những định hướng và cam kết được đưa ra, Bộ VH,TT&DL kỳ vọng trong năm tiếp theo, các bên có thể cùng nhìn lại những công việc đã hoàn thành, những lời hứa đã được hiện thực hóa và những nhiệm vụ cần tiếp tục triển khai. Đây cũng là cơ sở để kiểm chứng hiệu quả hợp tác, thay vì chỉ dừng ở những mục tiêu được công bố ban đầu.

Từ đó, sự ra đời của Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam không chỉ mở rộng kết nối giữa các doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo, mà còn đặt ra một phương thức hợp tác hướng tới hành động, lấy sản phẩm và giá trị được tạo ra làm thước đo.

17 sáng kiến

Bộ VH,TT&DL đã công bố 17 sáng kiến về phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam năm 2026,

gồm: Kho dữ liệu văn hóa số; Bản sao số di sản và Không gian văn hóa Cultureverse; Công cụ văn hóa số toàn dân; Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; Phim trường số; Nền tảng công nghệ điều khiển nghệ thuật biểu diễn; Thanh âm Việt Nam; Nhà thi đấu E-Sport và Ứng dụng thể thao toàn dân VNSport; Vietnam.Travel và Visit Vietnam; Game thuần Việt; Sao chọn; Men Việt; Hương phở; Hương trà; Ấn bản riêng - Tái bản theo nhu cầu; Tủ sách Công nghiệp văn hóa; Dáng Việt.

(Còn tiếp)

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN