Thành công của Nghị quyết 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 sẽ được quyết định tại xã, phường, làng, bản và khu dân cư - nơi chính sách gặp đời sống.
Thành công của Nghị quyết 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 sẽ được quyết định tại xã, phường, làng, bản và khu dân cư - nơi chính sách gặp đời sống. Mỗi đồng vốn chỉ thật sự có ý nghĩa khi đánh thức được nguồn lực cộng đồng, trao quyền cho người dân và hình thành những chuỗi giá trị kết nối văn hóa với giáo dục, sức khỏe, thể thao, du lịch và sinh kế.
Mọi chương trình lớn cuối cùng đều phải vượt qua một khoảng cách: Từ câu chữ đúng đắn trong nghị quyết đến thay đổi cụ thể trong đời sống. Với Nghị quyết 46, khoảng cách ấy càng đáng lưu ý bởi phạm vi rất rộng, nguồn lực rất lớn và đối tượng rất đa dạng.
Trao quyền để cộng đồng trở thành chủ thể
Một chính sách có thể được thiết kế tốt ở trung ương, nhưng nếu xã, phường không đủ năng lực lập dự án, cộng đồng không được tham gia, kinh phí đến chậm hoặc công trình không có người vận hành, mục tiêu tích hợp sẽ bị chia nhỏ ngay ở nơi thực hiện.

Nghề tranh làng Sình (Huế) có tuổi đời hơn 500 năm. Ảnh: Mai Trang - TTXVN
Vì vậy, xã, phường phải là điểm rơi của chương trình, còn người dân phải là chủ thể chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng. Nghị quyết xác định rõ nhân dân là chủ thể sáng tạo trong xây dựng môi trường văn hóa cơ sở; cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ và phát huy di sản. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, bởi văn hóa không thể được "cung cấp" hoàn toàn từ bên ngoài. Nhà nước có thể đầu tư không gian, thiết bị và hỗ trợ chuyên môn; sức sống chỉ hình thành khi cộng đồng đưa ký ức, tri thức, nhu cầu và năng lượng sáng tạo của mình vào đó.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng khái quát: "Bản sắc là gốc, hội nhập là cành"; bảo tồn và phát triển bổ sung cho nhau trong một thực thể hữu cơ sống động. Đồng chí cũng nhấn mạnh đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, cho "mạch nguồn" sức mạnh dân tộc. Tinh thần ấy giúp chúng ta tránh 2 thái cực ở cơ sở: Hoặc đóng băng di sản, giữ hình thức nhưng tách khỏi đời sống; hoặc thương mại hóa thiếu kiểm soát, làm biến dạng chính giá trị dùng để thu hút du khách.

Trải qua hơn 400 năm, làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) vẫn bắt kịp xu hướng thị trường xuất khẩu và phục vụ du lịch. Ảnh: Mỹ Hà - TTXVN
Muốn mỗi đồng vốn tạo ra sức sống, trước hết phải bắt đầu từ tài sản địa phương. Tài sản ở đây không chỉ là đất đai hoặc công trình, mà còn là tiếng nói, nghề thủ công, món ăn, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, cảnh quan, ký ức lịch sử, tri thức về rừng và nguồn nước, mạng lưới nghệ nhân và quan hệ cộng đồng... Nhiều địa phương còn nghèo về nguồn thu nhưng giàu tài sản văn hóa. Khi được nhận diện, bảo vệ và tổ chức thành sản phẩm phù hợp, những tài sản ấy tạo nên lợi thế mà nơi khác không thể sao chép.
Bước thứ hai là chuyển từ dự án đơn lẻ sang chuỗi giá trị địa phương. Một làng nghề cần ít nhất 5 mắt xích: Bảo tồn kỹ năng và nguyên liệu; thiết kế sản phẩm; tổ chức sản xuất; xây dựng thương hiệu, bản quyền; kết nối thị trường và trải nghiệm du lịch. Một điểm di sản cần bảo tồn, thuyết minh, giáo dục, dịch vụ, giao thông, môi trường và quản lý dòng khách. Một đội văn nghệ dân gian cần truyền dạy, không gian diễn, chế độ cho nghệ nhân, truyền thông và lịch biểu diễn ổn định. Nghị quyết 46 tạo điều kiện để các mắt xích vốn thuộc nhiều chương trình được thiết kế trong cùng một kế hoạch.
"Muốn mỗi đồng vốn tạo ra sức sống, trước hết phải bắt đầu từ tài sản địa phương. Tài sản ở đây không chỉ là đất đai hoặc công trình, mà còn là tiếng nói, nghề thủ công, món ăn, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, cảnh quan, ký ức lịch sử, tri thức về rừng và nguồn nước, mạng lưới nghệ nhân và quan hệ cộng đồng..." - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
Thực tiễn làng nghề ở Thanh Hóa là minh chứng có thể kiểm chứng. Hơn 12.700 hộ sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề tạo tổng doanh thu hơn 2.217 tỷ đồng mỗi năm và việc làm cho trên 26.500 lao động. Khoảng thu nhập 5 - 12 triệu đồng/người/tháng cho thấy bảo tồn nghề không chỉ là câu chuyện ký ức. Nhưng những con số ấy cũng nhắc rằng, để làng nghề đi xa, hỗ trợ phải hướng vào năng suất, an toàn lao động, môi trường, thiết kế, thị trường và khả năng truyền nghề, thay vì chỉ dừng ở danh hiệu hoặc sự kiện quảng bá.
Một hướng khác là kết nối sản phẩm OCOP với câu chuyện văn hóa và trải nghiệm điểm đến. Quảng Ngãi hiện có 535 sản phẩm OCOP còn thời hạn công nhận, gồm 2 sản phẩm 5 sao, 51 sản phẩm 4 sao và 482 sản phẩm 3 sao, với 280 chủ thể tham gia. Số lượng là nền tảng, nhưng giá trị lớn hơn nằm trong câu chuyện vùng đất, kỹ năng cộng đồng và sinh kế phía sau từng sản phẩm. Khi khách được đến nơi sản xuất, nghe câu chuyện, tự tay trải nghiệm và mua sản phẩm, giá trị được phân bổ cho nhiều chủ thể hơn.
Có thể hình thành ở mỗi địa phương một nhóm điều phối chương trình gọn, làm việc theo vấn đề thay vì theo "lãnh địa" ngành. Nhóm này không nhất thiết tạo thêm biên chế, mà huy động cán bộ văn hóa - xã hội, kinh tế, giáo dục, y tế, đại diện mặt trận, nghệ nhân, hợp tác xã và doanh nghiệp phù hợp. Với mỗi dự án, nhóm xác định một đầu mối chịu trách nhiệm, các đối tác phối hợp, mục tiêu kết quả và cơ chế phản hồi. Cách làm này giúp trách nhiệm không bị chia đều đến mức không ai chịu trách nhiệm cuối cùng.

Nằm bên bờ sông Thu Bồn, làng gốm Thanh Hà ở Quảng Nam (cũ) có lịch sử gần 500 năm, nổi tiếng với những sản phẩm bằng gốm, đất nung và kỹ thuật làm gốm truyền thống được truyền qua nhiều thế hệ. Ảnh: Mỹ Hà - TTXVN -
Từ dự án đơn lẻ đến hệ sinh thái phát triển ở cơ sở
Cộng đồng cũng cần được trao quyền theo những mức độ thực chất. Mức thấp nhất là được cung cấp thông tin; tiếp đến là được tham vấn; cao hơn là cùng thiết kế, cùng thực hiện, giám sát và hưởng lợi.
Với dự án di sản, cộng đồng phải có tiếng nói trong việc lựa chọn yếu tố cần bảo vệ, cách trình diễn, phạm vi thương mại hóa và phân chia lợi ích. Với thiết chế văn hóa, người sử dụng cần tham gia xây dựng lịch hoạt động và đánh giá chất lượng. Có quyền tham gia thì người dân mới có trách nhiệm giữ gìn.

Nghề đan đát xã Hồng Dân (tỉnh Cà Mau) tuy cho thu nhập không cao để người dân có thể làm giàu, nhưng là công việc ổn định, giúp nuôi sống nhiều gia đình. Ảnh: Tuấn Kiệt - TTXVN
Đặc biệt, phải nhìn nghệ nhân và người thực hành văn hóa như nguồn nhân lực cốt lõi. Một công trình có thể xây lại, nhưng khi nghệ nhân qua đời mà chưa kịp truyền dạy, tri thức có thể mất vĩnh viễn. Kinh phí bảo tồn vì vậy cần ưu tiên kiểm kê người nắm giữ, hỗ trợ truyền dạy theo kết quả, tạo không gian thực hành và kết nối họ với trường học, bảo tàng, doanh nghiệp sáng tạo. Chế độ tôn vinh rất cần, nhưng khả năng sống được với nghề và nhìn thấy thế hệ kế tục mới là bảo đảm bền vững.
Nhà trường ở địa phương là mắt xích chưa được khai thác hết. Mục tiêu 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên với nghệ thuật và giáo dục di sản sẽ khó đạt nếu chỉ tổ chức vài chuyến tham quan. Có thể đưa nghệ nhân vào trường, đưa học sinh đến không gian nghề, xây dựng học liệu số từ di sản địa phương, tổ chức câu lạc bộ nghệ thuật và để các em tham gia kể lại câu chuyện quê hương bằng phim ngắn, thiết kế, trò chơi. Khi giáo dục trở thành một phần của hệ sinh thái di sản, chúng ta vừa tạo công chúng tương lai, vừa nuôi dưỡng người kế nghiệp.

Khách hàng chọn mua nem Lai Vung tại cơ sở sản xuất nem Út Thẳng (xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp). Ảnh: Nhựt An - TTXVN
Chuyển đổi số có thể giúp địa phương vượt qua hạn chế về khoảng cách. Số hóa di sản, bản đồ hóa tài sản văn hóa, bán sản phẩm qua thương mại điện tử, đặt lịch trải nghiệm, đào tạo trực tuyến và công khai tiến độ dự án đều có giá trị. Tuy nhiên, không nên biến số hóa thành việc chụp ảnh rồi lưu trữ. Dữ liệu phải có chuẩn, quyền sở hữu và quyền tiếp cận rõ; nội dung phải được cập nhật và có người sử dụng. Đặc biệt, tri thức nhạy cảm của cộng đồng cần được bảo vệ, không thể đưa lên mạng chỉ vì chỉ tiêu số hóa.
Hệ thống đánh giá ở cơ sở nên gọn nhưng đi vào kết quả. Ngoài tiến độ và giải ngân, mỗi dự án cần có một số chỉ số dễ hiểu: Số ngày thiết chế mở cửa; số người sử dụng, phân theo nhóm tuổi và giới; thu nhập, việc làm được tạo ra; số nghệ nhân tham gia và người trẻ tiếp nối; mức hài lòng; tỷ lệ doanh thu quay lại bảo tồn; số học sinh được học thường xuyên; mức huy động nguồn lực ngoài ngân sách. Một bảng thông tin công khai tại địa phương hoặc nền tảng số sẽ giúp người dân cùng giám sát.
Cũng phải chấp nhận thử nghiệm và điều chỉnh. Không phải mô hình du lịch cộng đồng nào cũng phù hợp; không phải di sản nào cũng nên thương mại hóa; không phải thiết chế đa năng nào cũng vận hành giống nhau. Có thể dành một phần nguồn lực cho dự án thí điểm quy mô nhỏ, đánh giá sau 1 hoặc 2 năm rồi mới nhân rộng. Quản trị theo kết quả cho phép dừng cách làm kém hiệu quả và chuyển vốn sang giải pháp tốt hơn, thay vì cố hoàn thành một danh mục đã lạc hậu.

Ngươi dân tổ dân phố Cao (phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên) sản xuất các sản phẩm hương để phục vụ thị trường Tết. Ảnh: Thế Duyệt - TTXVN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tổ chức thực hiện phải phân công rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu; kiên quyết chấn chỉnh né tránh, đùn đẩy và làm hình thức.
Ở cơ sở, trách nhiệm ấy thể hiện rất cụ thể: Không khánh thành một công trình khi chưa có phương án vận hành; không phê duyệt dự án bảo tồn khi thiếu ý kiến chủ thể; không báo cáo thành công chỉ vì đã giải ngân; không lấy một mô hình đẹp để che khuất khoảng cách thụ hưởng của những nhóm yếu thế.
Sau 5 năm, thành công của chương trình không thể chỉ nằm trong những tập báo cáo dày. Nó phải hiện lên trong một bản làng giữ được tiếng nói và nghề truyền thống nhưng có thêm việc làm; một ngôi trường giúp trẻ em tự hào và sáng tạo từ di sản; một thiết chế luôn sáng đèn, có người tập luyện, đọc sách, biểu diễn; một sản phẩm địa phương đi xa hơn nhờ câu chuyện chân thật; một người cao tuổi được chăm sóc và không cô đơn; một phụ nữ có thu nhập từ tri thức của cộng đồng.
Nghị quyết 46 trao cho chúng ta cơ hội biến những dòng vốn lớn thành dòng chảy phát triển từ cơ sở. Để làm được điều đó, cần chuyển từ "đầu tư cho địa phương" sang "đầu tư cùng địa phương", từ trao sản phẩm sang trao năng lực, từ coi người dân là người nhận hỗ trợ sang nhìn họ như người sở hữu tri thức và đồng kiến tạo tương lai. Khi mỗi đồng vốn đánh thức thêm một năng lực, kết nối thêm một chủ thể và giữ lại thêm một giá trị, văn hóa sẽ tạo ra sức sống - sức sống để cộng đồng tự tin phát triển mà vẫn là chính mình.