Hợp nhất 4 chương trình tạo cơ hội giảm phân tán và tăng hiệu quả, nhưng quy mô càng lớn thì yêu cầu quản trị càng cao. Văn hóa - lĩnh vực tạo ra những giá trị lâu dài, khó đo ngay bằng mét vuông công trình hay tỷ lệ giải ngân - cần được bảo vệ bằng mục tiêu, ngân sách, tiêu chí kết quả và trách nhiệm giải trình đủ rõ.
Hợp nhất 4 chương trình tạo cơ hội giảm phân tán và tăng hiệu quả, nhưng quy mô càng lớn thì yêu cầu quản trị càng cao. Văn hóa - lĩnh vực tạo ra những giá trị lâu dài, khó đo ngay bằng mét vuông công trình hay tỷ lệ giải ngân - cần được bảo vệ bằng mục tiêu, ngân sách, tiêu chí kết quả và trách nhiệm giải trình đủ rõ.
Như kỳ 1 đã thông tin, ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
Một chương trình với tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng trong 5 năm đầu, triển khai trên phạm vi cả nước và bao phủ nhiều lĩnh vực thiết yếu chắc chắn mang lại kỳ vọng lớn. Nó cũng đặt ra một câu hỏi không thể né tránh: Trong một cấu trúc rộng như vậy, làm thế nào để văn hóa không bị thu hẹp thành vài hạng mục thiết chế, lễ hội hoặc hoạt động tuyên truyền; càng không bị lép vế trước những công trình dễ nhìn thấy, dễ định lượng và dễ giải ngân hơn? Đây không phải sự lo xa, mà là bài toán quản trị phải được giải quyết ngay từ thiết kế chương trình.
Rủi ro của tư duy nặng công trình, nhẹ sức sống
Văn hóa có một nghịch lý trong đầu tư công. Ai cũng thừa nhận văn hóa quan trọng, nhưng hiệu quả của nó thường bộc lộ chậm và phân tán. Một cây cầu hoàn thành có thể đo ngay chiều dài, năng lực lưu thông. Một nhà văn hóa được xây xong cũng đo được diện tích, số ghế, thiết bị. Nhưng giá trị thật chỉ xuất hiện khi nơi ấy có chương trình đều đặn, có người tổ chức, thu hút nhiều nhóm dân cư và tạo ra sự gắn kết. Nếu hệ thống đánh giá thiên về khối lượng xây lắp, phần "cứng" sẽ lấn phần "mềm", còn công trình có nguy cơ hoàn thành trên giấy nhưng vắng sức sống trong thực tế.

Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông tại xã Than Uyên (Lai Châu). thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương trong dịp Tết Độc lập 2/9/2026 vừa qua Ảnh: Quý Trun - TTXVN
Quốc hội đã đặt đúng hướng khi yêu cầu vốn đầu tư công phải bố trí tập trung, không dàn trải, đồng thời tiết kiệm chi thường xuyên. Tuy nhiên, với văn hóa, cần hiểu mối quan hệ giữa đầu tư và vận hành. Có thiết chế mà không có kinh phí nội dung, nhân lực chuyên môn và cơ chế hợp tác thì hiệu quả thấp. Ngược lại, chỉ tổ chức những hoạt động ngắn hạn mà không có không gian, dữ liệu, trang thiết bị và nền tảng số cần thiết cũng khó tạo tác động bền vững. Quản trị tốt không phải ưu tiên tuyệt đối phần cứng hay phần mềm, mà thiết kế vòng đời đầy đủ cho một dịch vụ văn hóa.
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra những đích đến rất cụ thể: Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia; 100% chính quyền địa phương 2 cấp và lực lượng vũ trang có thiết chế đáp ứng nhu cầu; 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên với nghệ thuật và giáo dục di sản; đồng thời bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Những chỉ tiêu này chính là "hàng rào" cần thiết để phần văn hóa trong chương trình chung không bị hòa tan.
Hai chính sách - Nghị quyết 80 và Nghị quyết 46 - cần được vận hành như 2 lớp bảo đảm. Nghị quyết 80 định vị, đặt chuẩn và bảo đảm nguồn lực chung cho văn hóa. Nghị quyết 46 cung cấp một cấu trúc tích hợp để nguồn lực văn hóa phối hợp với giáo dục, y tế, nông thôn và dân tộc. Nếu chỉ có lớp thứ nhất, chính sách dễ phân tán theo ngành; nếu chỉ có lớp thứ hai, văn hóa có thể mất ranh giới trách nhiệm và bị ưu tiên sau. Cần đồng thời giữ được mục tiêu chuyên ngành và tạo ra kết quả liên ngành.
"Mỗi dự án thiết chế phải trả lời được ai quản lý, ai làm nội dung, kinh phí hoạt động từ đâu, lịch hoạt động thế nào và cộng đồng tham gia ra sao" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
Trong phát biểu quán triệt Nghị quyết 80, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ thách thức lớn nhất đối với văn hóa hôm nay "không chỉ là thiếu nguồn lực" mà còn là nguy cơ xói mòn hệ giá trị, lệch chuẩn hành vi, thực dụng hóa, bạo lực ngôn từ và tin giả. Nhận định ấy nhắc chúng ta rằng không thể giải bài toán văn hóa chỉ bằng tăng kinh phí. Nguồn lực phải được chuyển hóa thành môi trường, hoạt động, năng lực sáng tạo và "sức đề kháng" xã hội; nếu không, chúng ta có thể có thêm nhiều công trình mà những vấn đề văn hóa cốt lõi vẫn chưa được xử lý.
Vì vậy, khâu đầu tiên là phải đổi hệ tiêu chí. Bên cạnh số di tích được tu bổ, cần đo tỷ lệ di tích có phương án phát huy giá trị và sự tham gia của cộng đồng. Bên cạnh số nhà văn hóa, phải đo tần suất mở cửa, số nhóm dân cư sử dụng, mức độ hài lòng và tỷ lệ chi cho nội dung. Bên cạnh số lớp truyền dạy, cần xem có bao nhiêu người trẻ tiếp tục thực hành. Bên cạnh số sản phẩm được hỗ trợ, cần đo doanh thu, việc làm, bản quyền, thị trường và phần lợi ích quay trở lại cho chủ thể văn hóa.
Quản trị theo kết quả để giữ đúng vị trí của văn hóa
Thước đo văn hóa cũng không thể chỉ là con số kinh tế. Có những tiếng nói, lễ tục, tri thức bản địa cần được bảo vệ ngay cả khi chưa thể trở thành sản phẩm thị trường. Có những không gian công cộng phải duy trì để mọi người, nhất là trẻ em, người cao tuổi và nhóm yếu thế, được hưởng thụ bình đẳng. Chính sách tốt phải phân biệt rõ 3 nhóm kết quả: Giá trị cần bảo vệ vì căn tính và quyền văn hóa; dịch vụ công cần bảo đảm vì công bằng; sản phẩm có thể phát triển theo cơ chế thị trường để tạo giá trị kinh tế. Trộn lẫn 3 nhóm sẽ dẫn đến hoặc thương mại hóa thái quá, hoặc bao cấp dàn trải.

Vòng xòe tại Carnaval “Vũ điệu đường phố” trên trục đường Võ Nguyên Giáp, phường Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên) vào tối 31/8/2026. Ảnh: Xuân Tư – TTXVN
Khâu thứ ba là thay đổi cơ chế phân bổ. Không nên chia đều theo kiểu mỗi nơi một ít, bởi đầu tư văn hóa dàn trải dễ tạo ra nhiều công trình nhỏ nhưng thiếu tác động. Cần một phần nguồn lực nền tảng để bảo đảm quyền tiếp cận tối thiểu ở mọi địa bàn; một phần theo mức độ thiếu hụt, ưu tiên vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; và một phần cạnh tranh dựa trên chất lượng đề án, khả năng đối ứng, liên kết vùng và cam kết vận hành. Cơ chế này vừa giữ công bằng, vừa khuyến khích sáng tạo.
Khâu thứ tư là bảo đảm chi phí vận hành ngay từ lúc phê duyệt đầu tư. Mỗi dự án thiết chế phải trả lời được ai quản lý, ai làm nội dung, kinh phí hoạt động từ đâu, lịch hoạt động thế nào và cộng đồng tham gia ra sao. Có thể mở rộng đặt hàng, khoán chi, hợp tác công - tư và giao quyền khai thác có điều kiện, nhưng phải bảo vệ mục tiêu phục vụ công chúng. Một thiết chế công không nhất thiết mọi hoạt động đều miễn phí, song không thể biến thành mặt bằng kinh doanh khiến người thu nhập thấp bị loại khỏi không gian văn hóa của chính mình.
Khâu thứ năm là dữ liệu. Khi chương trình bao phủ 4 trụ cột, một hệ thống thông tin dùng chung sẽ giúp nhìn thấy tác động tổng hợp và hạn chế trùng lặp. Dữ liệu thiết chế, di sản, nghệ nhân, trường học, y tế cơ sở, hộ nghèo, sản phẩm OCOP, điểm du lịch và hạ tầng số cần có khả năng kết nối. Tuy nhiên, dữ liệu không chỉ để báo cáo lên trên. Nó phải quay trở lại giúp xã lựa chọn dự án, giúp người dân tiếp cận dịch vụ và giúp doanh nghiệp tìm cơ hội hợp tác. Chuyển đổi số phải làm tăng năng lực hành động, không tạo thêm một tầng thủ tục điện tử.
Từ ví dụ đó có thể thấy đầu tư văn hóa cần một "chuỗi kết quả". Kinh phí truyền dạy giúp bảo tồn kỹ năng; đào tạo thiết kế giúp sản phẩm thích ứng; bảo hộ sở hữu trí tuệ bảo vệ giá trị; xúc tiến thương mại mở thị trường; du lịch tạo trải nghiệm; nền tảng số mở rộng khách hàng. Nếu các khâu thuộc nhiều dự án nhưng không có người điều phối, hiệu quả sẽ đứt đoạn. Chương trình chung chỉ có ý nghĩa khi khắc phục được sự đứt đoạn ấy.
Cũng cần có cơ chế giám sát độc lập và sự tham gia của người dân. Công khai không nên dừng ở tên dự án và số vốn, mà phải có mục tiêu đầu ra, tiến độ, đơn vị vận hành và phản hồi của người sử dụng. Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia và báo chí có thể tham gia theo dõi những dự án lớn hoặc có nguy cơ tác động đến di sản. Với văn hóa, sự đồng thuận của chủ thể cộng đồng là một chỉ báo chất lượng, không phải thủ tục phụ.
Không để văn hóa bị hòa tan không có nghĩa là dựng thêm ranh giới ngành hay giữ riêng từng "phần bánh" ngân sách. Ngược lại, đó là bảo đảm văn hóa đủ rõ về mục tiêu để có thể kết nối bình đẳng với những lĩnh vực khác. Khi chuẩn mực, bản sắc, sáng tạo và quyền thụ hưởng được đưa vào tiêu chí của nông thôn mới, giáo dục, sức khỏe và giảm nghèo, văn hóa vừa giữ được bản chất vừa mở rộng ảnh hưởng.
Quy mô lớn của chương trình là cơ hội lịch sử, nhưng tiền lớn không tự động tạo ra kết quả lớn. Chỉ khi nguồn lực được phân bổ theo vấn đề, quản trị theo kết quả, vận hành bằng năng lực chuyên môn và giám sát bởi người dân, Nghị quyết 46 mới tránh được nguy cơ trở thành "siêu chương trình" nặng thủ tục. Khi ấy, văn hóa không bị thu nhỏ trong một tiểu dự án; nó trở thành hệ điều tiết giúp mỗi quyết định đầu tư trả lời đúng câu hỏi: Sự phát triển này làm con người tốt hơn và cộng đồng bền vững hơn như thế nào?
(Còn tiếp)