thethaovanhoa.vn

Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 1): Từ chiến lược đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo

PGS-TS Bùi Hoài Sơn 14/08/2026 07:15 GMT+7

Gần một thập niên kể từ Quyết định số 1755/QĐ-TTg, công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đi từ một khái niệm còn khá mới trở thành một nội dung ngày càng rõ trong chiến lược phát triển đất nước.

(LTS) Gần một thập niên kể từ Quyết định số 1755/QĐ-TTg, công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đi từ một khái niệm còn khá mới trở thành một nội dung ngày càng rõ trong chiến lược phát triển đất nước. Quyết định số 2486/QĐ-TTg năm 2025 tiếp tục nâng tầm mục tiêu; Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội mở ra những cơ chế mới mạnh mẽ hơn. Trong hành trình ấy, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không nên chỉ là bước tiếp theo của quá trình hoàn thiện chính sách, mà cần trở thành bước chuyển căn bản từ chiến lược sang thể chế, từ khuyến khích sang kiến tạo một hệ sinh thái thực sự vận hành được.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đã dành cho Thể thao và Văn hóa loạt bài về vấn đề này, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Từ Quyết định 1755 đến một tư duy phát triển mới

Ngày 8/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 1): Từ chiến lược đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo - Ảnh 1.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn

Nhìn lại gần một thập niên, tôi cho rằng giá trị lớn nhất của Quyết định 1755 không chỉ nằm ở những mục tiêu cụ thể, mà ở việc lần đầu tiên đưa khái niệm "công nghiệp văn hóa" trở thành một bộ phận chính thức trong tư duy phát triển quốc gia. Văn hóa từ chỗ chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ bảo tồn, giáo dục và đời sống tinh thần bắt đầu được nhìn nhận rõ hơn trong mối quan hệ với sáng tạo, thị trường, công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, việc làm và đóng góp kinh tế. Đây là một thay đổi quan trọng, bởi khi văn hóa bước vào chuỗi giá trị, giá trị tinh thần và giá trị kinh tế không loại trừ nhau mà có thể bổ trợ cho nhau nếu được tổ chức đúng cách.

Tôi còn nhớ trong những năm đầu nghiên cứu về công nghiệp văn hóa, khó khăn không chỉ là thiếu nguồn lực mà còn ở chính cách hiểu. Khi nói văn hóa có thể trở thành một ngành kinh tế, đôi khi chúng ta còn e ngại rằng như vậy sẽ dẫn đến "thương mại hóa" văn hóa. Nhưng kinh nghiệm quốc tế cho thấy một sản phẩm văn hóa càng giàu giá trị, càng sáng tạo, càng chạm tới cảm xúc con người thì càng có khả năng hình thành thị trường bền vững.

Điều quan trọng không phải là đứng ngoài thị trường, mà là xây dựng một thị trường lành mạnh để giá trị văn hóa được tôn trọng, người sáng tạo được hưởng lợi chính đáng và nguồn lực kinh tế quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo.

Chính quá trình thực hiện Quyết định 1755 đã giúp tư duy đó ngày càng rõ hơn. Công nghiệp văn hóa bước ra khỏi phạm vi thảo luận học thuật để trở thành chương trình hành động của nhiều bộ, ngành và địa phương. Hà Nội ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa; TP.HCM xây dựng đề án riêng; nhiều địa phương bắt đầu nhìn di sản, lễ hội, thiết kế, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, làng nghề và du lịch văn hóa như những chuỗi giá trị có thể tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, càng đi vào thực tiễn, chúng ta càng nhận rõ giới hạn của một chiến lược khi chưa được nâng đỡ bởi một khung pháp luật đủ đồng bộ.

Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 1): Từ chiến lược đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo - Ảnh 2.

Quốc hội thảo luận ở hội trường Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam vào sáng 22/4/2026. Ảnh: TTXVN

Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực xuyên ngành nhưng hệ thống pháp luật lại được tổ chức theo từng ngành. Một bộ phim chịu sự điều chỉnh của pháp luật về điện ảnh, bản quyền, đầu tư, thuế, quảng cáo và nền tảng số; một trò chơi điện tử có thể đồng thời liên quan đến văn hóa, phần mềm, công nghệ, thương mại điện tử, dữ liệu và sở hữu trí tuệ; một không gian sáng tạo có thể vướng đất đai, tài sản công, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, biểu diễn và kinh doanh.

Vì thế, chúng ta có thể có nhiều chính sách tốt nhưng người sáng tạo và doanh nghiệp vẫn khó kết nối các chính sách ấy thành một quá trình phát triển liền mạch. Khoảng trống lớn nhất không còn là thiếu thêm một thủ tục quản lý, mà là thiếu những cơ chế nối văn hóa với thị trường, tài sản trí tuệ với vốn, người sáng tạo với doanh nghiệp, dữ liệu với công nghệ và sản phẩm Việt Nam với hệ thống phân phối toàn cầu.

Từ Chiến lược 2486 và Nghị quyết 80 đến yêu cầu thể chế hóa bằng luật

Ngày 14/11/2025, Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đưa khát vọng phát triển lên một tầm cao mới. Chiến lược xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành này tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm, đóng góp 7% GDP; đến năm 2045 hướng tới đóng góp 9% GDP, tỷ lệ sản phẩm số ngày càng cao và Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực.

Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 1): Từ chiến lược đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo - Ảnh 3.

Gian trưng bày Điện ảnh Việt Nam tại Triển lãm Thành tựu đất nước là một trong những điểm đến thu hút đông đảo khách tham quan. Ảnh: Phương Lan - TTXVN

Những mục tiêu ấy không đơn thuần là những con số kinh tế, mà phản ánh sự thay đổi vị trí của văn hóa trong mô hình tăng trưởng quốc gia: văn hóa ngày càng gắn với tri thức, sáng tạo, thương hiệu, dữ liệu và tài sản trí tuệ.

Sự chuyển đổi về tư duy được đẩy lên mạnh mẽ hơn với Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đặt phát triển văn hóa và con người vào vị trí nền tảng, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển bền vững; đồng thời yêu cầu tăng cường liên thông giữa chính sách văn hóa với giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tư nhân.

Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội tiếp tục chuyển những định hướng ấy thành các công cụ cụ thể hơn, trong đó có yêu cầu bảo đảm nguồn lực cho văn hóa và cơ chế thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo hướng hợp tác công tư, đầu tư mạo hiểm, hoạt động gần với nguyên tắc thị trường và chấp nhận rủi ro.

Theo tôi, đây là một thay đổi rất đáng chú ý trong triết lý chính sách. Chúng ta không chỉ hỏi "Nhà nước chi bao nhiêu cho văn hóa?" mà phải hỏi sâu hơn: "Nguồn lực ấy được tổ chức thế nào để tạo thêm sáng tạo, thêm tài sản trí tuệ, thêm doanh nghiệp và thêm thị trường?".

Mở đường cho công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 1): Từ chiến lược đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo - Ảnh 4.

Chương trình nghệ thuật "Nét duyên Chèo Hà thành" của Nhà hát Chèo Hà Nội, góp phần xây dựng sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô và phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Sáng tạo vốn có rủi ro. Không phải bộ phim nào cũng thành công, không phải trò chơi nào cũng có hàng triệu người dùng, không phải thiết kế nào cũng tạo được thị trường. Nếu cơ chế tài chính công chỉ chấp nhận những gì chắc chắn thành công, sẽ rất khó tài trợ cho đổi mới sáng tạo; nhưng nếu chấp nhận rủi ro mà thiếu tiêu chí, minh bạch và trách nhiệm giải trình thì lại có thể dẫn tới thất thoát. Một đạo luật phát triển phải giải quyết được sự cân bằng ấy.

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh những chuyển dịch lớn: từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột và động lực tăng trưởng mới; từ không gian văn hóa truyền thống sang đồng thời phát triển trong không gian thực và không gian số; từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo để tạo ra tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Tôi cho rằng đó chính là "đề bài" quan trọng nhất đối với Dự thảo Luật hiện nay.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không nên chỉ luật hóa lại các mục tiêu của Chiến lược 2486, càng không nên trở thành một bản tổng hợp của các luật điện ảnh, xuất bản, quảng cáo hay di sản. Điều cần thiết hơn là tạo ra những cầu nối còn thiếu, tháo gỡ những điểm nghẽn mà hệ thống pháp luật chuyên ngành chưa xử lý được, đồng thời đặt người sáng tạo ở vị trí trung tâm.

Hành trình từ Quyết định 1755 đến Quyết định 2486, từ Nghị quyết 80 đến Nghị quyết 28 cho thấy chúng ta đã đi từ nhận thức đến chiến lược, từ chiến lược đến những chính sách mạnh mẽ hơn. Bước tiếp theo phải là một thể chế đủ sức tổ chức những nguồn lực ấy thành năng lực phát triển thực tế.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN