Bài thơ "Viếng mộ Lê Chất" của Phan Khôi như sau: "Bình Tây trấn Bắc sử nghìn thu/ Ấy cỏ mờ rêu đất một u/ Ấy dũng ấy trung là thế thế/ Mà ân mà nghĩa ở mô mô/ Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù/ Cái chuyện anh hùng ai giở đến/ Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu".
Bài thơ Viếng mộ Lê Chất của Phan Khôi như sau: "Bình Tây trấn Bắc sử nghìn thu/ Ấy cỏ mờ rêu đất một u/ Ấy dũng ấy trung là thế thế/ Mà ân mà nghĩa ở mô mô/ Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù/ Cái chuyện anh hùng ai giở đến/ Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu". Sinh thời, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan cho rằng: "Thơ Đường luật gần đây ít bài được như thế".
Câu thơ "Ấy cỏ mờ rêu đất một u". U trong ngữ cảnh này đích thị là gò/ gò đất. Từ gò này, ta nhớ đến câu ca dao "Ruộng gò cấy lúa Nàng Co/ Thương anh thì thương đại, đừng để anh gò mất công". Vẫn là từ "gò". Gò là tán tỉnh, dỗ dành, là cua gái. "Ruộng gò cấy lúa Ba Xe/ Thấy em còn nhỏ anh ve để dành". Ve cũng là gò. Sự dí dỏm, tinh nghịch gói gọn trong từ "để dành". Khôn quá là khôn.
Nhắc đến câu thơ "Ấy cỏ mờ rêu đất một u", lập tức trong trí nhớ ta nghĩ đến câu thơ của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhiều người nhầm tưởng ca dao: "Ong bầu đậu đọt mù u/ Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn".

Ảnh minh hoạ
Bài thơ của Phan Khôi, dù dùng theo cách phát âm của người miền Trung, nhưng không khó hiểu. Riêng 2 câu luận: "Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ/ Hùm thét oai lưa gió vụt vù" thì "hờn sót" là nỗi căm hờn còn sót lại; "oai lưa" là oai thừa, cái oai ấy vẫn còn. Thế nhưng bất ngờ nhất là khi Phan Khôi viết: "Hồ Tây còn vẳng tiếng chuông bu". Có phải do tuân thủ vần với vần "u" toàn bài, nên mới có câu thơ "khiêng cưỡng" như thế?
"Tiếng chuông bu" nó ra làm sao? Phải là chuông bong/ bong bong, mới dễ hiểu hơn chăng? Thật bất ngờ khi Việt Nam tự điển (1931) do Hội Khai trí Tiến Đức ở ngoài Bắc khởi thảo có ghi nhận: "Bu lu: Cái chiêng, do tiếng kêu mà đặt tên". Thì ra, "tiếng chuông bu" là vậy.
Trong cái sự ngân vang của "tiếng chuông bu" ấy, ông Vũ Ngọc Phan nghe ra: "Có một giọng ai oán thê thảm như cái vang ngân của tiếng chuông chùa "bu lu bi li" trên mặt nước Hồ Tây".
Ở truyện ngắn Chém treo ngành, nhà văn Nguyễn Tuân lại cảm nhận: "Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!". Thì ra, với âm thanh mỗi người có cách cảm nhận khác nhau.
Từ "bu" này cũng lắm chuyện. Cái chụp đan bằng tre, nứa giống như cái nơm dùng để nhốt gà, ngoài Bắc gọi cái bu, trong Nam lại gọi cái bội. "Trong chay ngoài bội", thì bội trong thành ngữ này lại là hát bội.
Tiếng Việt thật là phong phú!