Quốc hội Việt Nam khóa IV hoạt động trong hoàn cảnh đặc biệt: vừa xây dựng, khôi phục kinh tế miền Bắc sau chiến tranh phá hoại, vừa dồn sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Quốc hội Việt Nam khóa IV hoạt động trong hoàn cảnh đặc biệt: vừa xây dựng, khôi phục kinh tế miền Bắc sau chiến tranh phá hoại, vừa dồn sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Những quyết sách về kế hoạch nhà nước, quốc phòng và đối ngoại được ban hành trong nhiệm kỳ này đã góp phần quan trọng tạo nên thế và lực mới cho cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bầu cử Quốc hội khóa IV (ngày 11/4/1971)
Ngày 11/4/1971, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng thuộc 80 đơn vị bầu cử trên khắp miền Bắc đã đi bỏ phiếu bầu những đại diện xứng đáng vào Quốc hội khóa IV. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 98,88%. Các cử tri đã lựa chọn bầu 420 đại biểu trong tổng số 529 ứng cử viên.
Dấu ấn nhiệm kỳ (1971-1975)
Hoạt động trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, Quốc hội khóa IV tiếp tục động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, động viên sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cố vấn Lê Đức Thọ, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh hội đàm với cố vấn Chính phủ Mỹ Henry Kissinger để thảo luận việc thi hành Hiệp định (10/2/1973). Ảnh: Lâm Hồng - TTXVN
Trong 4 năm hoạt động với 5 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua những biện pháp đấu tranh bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris; nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, ổn định đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, chuẩn bị lực lượng để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Với sự nghiệp tiếp tục xây dựng miền Bắc những năm 1971-1975
Từ năm 1971, nhân dân miền Bắc bắt tay vào thực hiện kế hoạch nhà nước ba năm (1971-1973) nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa. Kế hoạch trên được thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa IV (19-25/3/1972). Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua phương hướng điều chỉnh kế hoạch nhà nước năm 1972. Tiếp đó, tháng 8/1973, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ và những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phục hồi và phát triển kinh tế quốc dân năm 1973. Đến Kỳ họp thứ tư (2/1974), Quốc hội đã phê duyệt phương hướng, nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế hai năm 1974-1975 và thông qua chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước năm 1974. Kỳ họp thứ năm (12/1974), Quốc hội thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước năm 1975.
Bảo đảm tiềm lực đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ
Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1971-1975 được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp đã đạt được những thắng lợi quan trọng, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Đồng thời, dốc sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; chi viện cho cách mạng Lào và Campuchia. Nguồn chi viện lớn của miền Bắc đã tăng nhanh thế và lực cho quân dân ta trên chiến trường, đẩy mạnh thế chiến lược tiến công, làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ; đưa tới việc ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Hiệp định Paris về Việt Nam
Sau gần 5 năm đàm phán gay go, quyết liệt, ngày 27/1/1973, tại Paris, Thủ đô nước Pháp, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Nội dung chủ yếu của Hiệp định là Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Tại Kỳ họp thứ ba (18-21/2/1973), Quốc hội khóa IV thông qua Nghị quyết tán thành việc ký kết Hiệp định Paris; nhất trí thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; đồng thời yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều khoản của Hiệp định.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký văn kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp), ngày 27/1/1973. Ảnh: Văn Lượng - TTXVN
Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa IV
Quốc hội khóa IV hoạt động trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dồn sức cho nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong hoàn cảnh đó, Quốc hội vẫn duy trì hiệu quả chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Thông qua các kỳ họp, Quốc hội đã xem xét, đánh giá các báo cáo quan trọng của Chính phủ, thảo luận và quyết nghị những vấn đề cấp thiết liên quan đến quốc phòng, an ninh, kinh tế và đời sống Nhân dân. Các hoạt động giám sát tuy triển khai trong điều kiện chiến tranh, nhưng luôn bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần củng cố kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Quốc hội khóa IV đã tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm đoàn kết toàn dân tộc, chung sức đồng lòng vì mục tiêu độc lập, thống nhất và hòa bình.
Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại
Phát huy những thắng lợi trên mặt trận quân sự và ngoại giao, Quốc hội khóa IV tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, tăng cường hoạt động quốc tế để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã mời và đón tiếp nhiều đoàn đại biểu từ các nước, các chính đảng, Quốc hội, các tổ chức tiến bộ từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi lần lượt đến thăm, mang đến cho nhân dân Việt Nam tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị thắm thiết.
Hàng trăm nghị sĩ Quốc hội, các nhân vật nổi tiếng ở các nước đã ra tuyên bố hoặc ký vào các bản kiến nghị lên án chính quyền Mỹ kéo dài cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Để đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại giao nghị viện, tháng 2/1974, tại Kỳ họp thứ tư, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã được thành lập.

Quốc hội Việt Nam trong thời kỳ 1960-1980 hoạt động trong điều kiện miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong ảnh: Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IV. Ảnh: TTXVN
Giai đoạn 1971-1975 ghi dấu vai trò nổi bật của Quốc hội Việt Nam khóa IV trong việc vừa xây dựng miền Bắc, vừa dồn sức cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Từ phê chuẩn và giám sát thi hành Hiệp định Paris, thông qua các kế hoạch phục hồi kinh tế đến đẩy mạnh ngoại giao nghị viện, Quốc hội đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Những quyết sách trong nhiệm kỳ này đã trực tiếp chuẩn bị điều kiện cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa xuân 1975.