thethaovanhoa.vn

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 4): Hướng tới con đường phát triển bền vững

Công Bắc (ghi) 05/03/2026 22:34 GMT+7

Trong bối cảnh lễ hội truyền thống đang từng bước được nhìn nhận như một nguồn lực của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là tổ chức lễ hội an toàn hay thu hút đông du khách.

Trong bối cảnh lễ hội truyền thống đang từng bước được nhìn nhận như một nguồn lực của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là tổ chức lễ hội an toàn hay thu hút đông du khách. Xa hơn, cần xây dựng một mô hình phát triển dài hạn, cân bằng giữa bảo tồn và khai thác giá trị di sản.

Từ yêu cầu này, bài toán phía trước đòi hỏi sự hoàn thiện đồng bộ từ chính sách, quy hoạch, nhận diện giá trị văn hóa đến phát triển nguồn nhân lực và cơ chế phối hợp đa chủ thể, nhằm đưa lễ hội thực sự trở thành động lực phát triển bền vững trong thời gian tới.

Tiếp tục cuộc trao đổi với Thể thao & Văn hóa (TTXVN), PGS-TS Lê Văn Tấn (Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Du lịch, Trường Đại học Công đoàn) và TS Trần Hữu Sơn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch) có những chia sẻ về vấn đề này.

PGS-TS Lê Văn Tấn: 4 ưu tiên cho kinh tế di sản bền vững

"Sự phát triển bền vững của kinh tế di sản cần được nhìn trên một trục thời gian dài. Phát triển hôm nay không chỉ phục vụ hiện tại mà phải nghĩ đến 5 năm, 10 năm, thậm chí 20 năm sau, khi các thế hệ tiếp nối vẫn còn dư địa để khai thác và phát triển. Cha ông đã tích lũy, gìn giữ di sản qua hàng trăm, hàng nghìn năm, vì vậy chúng ta không thể khai thác theo tư duy ngắn hạn rồi để lại khoảng trống cho tương lai.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 4): Hướng tới con đường phát triển bền vững - Ảnh 1.

PGS-TS Lê Văn Tấn

Thực tế, cũng giống như tài nguyên thiên nhiên cần hàng triệu năm để tái tạo, giá trị văn hóa và lễ hội cũng là kết quả của quá trình kết tinh, thanh lọc rất dài của lịch sử. Vì vậy, chuyển hóa tài nguyên lễ hội thành nguồn lực phát triển phải cân bằng giữa khai thác và tái tạo. Và theo tôi, trong thời gian tới có 4 ưu tiên mang tính nền tảng.

Trước hết là hành lang chính sách. Muốn phát triển bền vững, hệ thống chính sách phải thực sự nhuần nhuyễn, thiết thực và phù hợp với thực tiễn vận hành của các điểm đến. Chính sách không chỉ để quản lý mà phải trở thành công cụ dẫn dắt phát triển.

Thứ hai, cần xây dựng các hồ sơ luận giải và minh định hệ giá trị cốt lõi của từng điểm đến lễ hội. Mỗi di sản muốn trở thành sản phẩm du lịch hay sản phẩm của kinh tế di sản đều phải trả lời rõ: giá trị đặc sắc nằm ở đâu, yếu tố bản sắc nào cần được bảo tồn và yếu tố nào có thể khai thác để phát triển.

Thứ ba là quy hoạch không gian phát triển. Quy hoạch phải xác định rõ đâu là không gian lõi cần bảo tồn nghiêm ngặt, đâu là không gian đệm, đâu là khu vực dịch vụ phục vụ du khách. Nếu thiếu quy hoạch tổng thể, việc phát triển rất dễ dẫn tới xâm lấn không gian di sản hoặc khai thác quá mức.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 4): Hướng tới con đường phát triển bền vững - Ảnh 2.

Du khách trải nghiệm dẫn dệt thổ cẩm tại Không gian văn hóa truyền thống xã Đồng Văn (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ - TTXVN

Cuối cùng, và theo tôi là yếu tố mang tính quyết định lâu dài, chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ là đội ngũ quản lý hay chuyên gia, mà gồm toàn bộ những người tham gia vào hành trình trải nghiệm của du khách.

Thực tế, những người ở gần du khách nhất, đồng hành với họ lâu nhất lại chính là lực lượng cần được đào tạo bài bản nhất. Đó là hướng dẫn viên suốt tuyến, thuyết minh viên tại điểm và đặc biệt là cộng đồng địa phương - những người trực tiếp hưởng lợi từ du lịch. Một người trông xe, một người bán nước hay người bán sản phẩm địa phương cũng đang tham gia cung ứng dịch vụ du lịch bằng chính thái độ và hành vi ứng xử của mình.

Trong nhiều chuyến đi thực tế, tôi từng rất ấn tượng khi người dân ở một số địa phương cúi đầu cảm ơn du khách sau mỗi giao dịch nhỏ. Đó là chi tiết rất nhỏ nhưng lại tạo nên ký ức trải nghiệm sâu sắc. Những yếu tố tưởng chừng giản dị ấy, khi được tích hợp trong một hệ thống dịch vụ đồng bộ, sẽ góp phần hình thành nền tảng phát triển bền vững.

Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và nâng cao nhận thức cho cộng đồng cần được xem là một nhiệm vụ lâu dài. Khi người dân sẵn sàng tham gia, họ cũng phải được hưởng lợi rõ ràng, được tổ chức không gian kinh doanh hợp lý và được trở thành một phần của chuỗi giá trị du lịch.

Từ 4 ưu tiên trên, tôi tin rằng với lợi thế về thiên nhiên phong phú và nền văn hóa giàu bản sắc, bức tranh kinh tế di sản của Việt Nam trong thời gian tới sẽ có nhiều chuyển biến tích cực. Việc triển khai các định hướng lớn, đặc biệt từ Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, hoàn toàn có thể tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá cho du lịch văn hóa và kinh tế di sản trong giai đoạn tới.

TS Trần Hữu Sơn: Định vị lễ hội như một ngành kinh tế di sản

Về mặt nhận thức, cần xác định rõ kinh tế di sản hay kinh tế nghi lễ trong lễ hội là một ngành kinh tế quan trọng, có khả năng bổ trợ và tạo động lực lan tỏa cho nhiều lĩnh vực phát triển khác, đặc biệt là du lịch và công nghiệp văn hóa. Khi nhìn nhận đúng vai trò này, việc đầu tư cho lễ hội sẽ không còn dừng ở hoạt động bảo tồn đơn thuần mà hướng tới khai thác giá trị bền vững.

Trong hệ thống lễ hội hiện nay, có thể phân biệt 2 nhóm chính có tiềm năng phát triển thành sản phẩm kinh tế di sản.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 4): Hướng tới con đường phát triển bền vững - Ảnh 3.

TS Trần Hữu Sơn

Thứ nhất là các lễ hội truyền thống, thường diễn ra theo chu kỳ năm, gắn chặt với đời sống tín ngưỡng và canh tác của cộng đồng, như lễ hội xuống đồng của người Tày, Nùng, Giáy; lễ hội Gầu Tào của người Mông; hay các nghi lễ cúng rừng ở nhiều cộng đồng cư dân khác nhau. Những lễ hội này mang giá trị di sản đặc sắc, cần được bảo tồn nguyên gốc và tổ chức đúng chuẩn mực văn hóa.

Bên cạnh đó là nhóm lễ hội mang tính sự kiện du lịch, thường được tổ chức dưới hình thức festival. Đây là loại hình năng động hơn, có thể chủ động xây dựng theo mùa và gắn với tài nguyên bản địa. Thực tế cho thấy nhiều địa phương đã làm khá tốt mô hình này, như các lễ hội gắn với các loài hoa: lễ hội hoa anh đào, lễ hội hoa ban, lễ hội hoa mận… ở Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La… Những festival này cho phép địa phương chủ động tạo dựng sản phẩm du lịch, tăng cường giao lưu văn hóa và thu hút du khách mà không hoàn toàn phụ thuộc vào chu kỳ lễ hội truyền thống.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 4): Hướng tới con đường phát triển bền vững - Ảnh 4.

Đồng bào Sán Chay thực hiện các nghi lễ của lễ hội xuống đồng. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Trong quá trình tổ chức các lễ hội này, vai trò của giới khoa học đặc biệt quan trọng. Chính quyền địa phương cần chủ động mời các nhà nghiên cứu tham gia tư vấn nhằm xây dựng chiến lược phát triển lễ hội dài hạn cho từng tỉnh, từng vùng. Mỗi địa phương cần xác định rõ hệ thống lễ hội nào thuộc diện bảo tồn di sản, lễ hội nào phát triển theo hướng kinh tế nghi lễ, từ đó tổ chức một cách bài bản và khoa học hơn.

Một vấn đề quan trọng khác là thay đổi cách vận hành lễ hội ở cấp cơ sở. Lễ hội không nên chỉ là hoạt động sử dụng ngân sách mà cần từng bước trở thành nguồn tạo thu nhập cho cộng đồng. Nguồn thu này có thể đến từ dịch vụ lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm văn hóa, mua sắm sản phẩm địa phương cũng như sự kết nối với các tuyến du lịch và doanh nghiệp lữ hành.

Để làm được điều đó, cần hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa bốn chủ thể: cộng đồng cư dân địa phương, chính quyền cơ sở, các nhà khoa học và doanh nghiệp du lịch. Khi "bốn nhà" cùng tham gia và vận hành đồng bộ, lễ hội sẽ không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành động lực phát triển thực chất của kinh tế di sản trong tương lai.

Tôi cho rằng trong thời gian tới, kinh tế nghi lễ hay kinh tế lễ hội - một loại hình của kinh tế di sản - sẽ phát triển mạnh. Người dân Việt Nam có truyền thống thích ứng nhanh, học hỏi nhanh, vì vậy khi nhận thức rõ hơn về vai trò của lễ hội trong phát triển kinh tế thì quá trình này sẽ diễn ra thuận lợi.

Tuy nhiên, để sự phát triển diễn ra nhanh và hiệu quả hơn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, các nhà khoa học, cộng đồng và doanh nghiệp cùng tham gia, cùng triển khai. Các ban tổ chức lễ hội trong thời gian tới cũng không chỉ dừng lại ở việc phòng chống mê tín dị đoan hay bảo đảm an toàn thực phẩm, mà cần quan tâm hơn đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế di sản, kinh tế lễ hội gắn với hoạt động tổ chức lễ hội.

(còn tiếp)

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN