1. Trong lịch sử quân sự, vùng Đông Á, người ta thấy rõ áo giáp cho quân đội của các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam có kết cấu và hình thức tương đối giống nhau.
Tuy nhiên, áo giáp Trung Hoa có vẻ phong phú và tinh tế hơn ba nước kia. Áo giáp của ba nước còn lại trọng về thực dụng hơn thẩm mỹ, đôi khi rất thô và mang tính phô trương bạo lực, chẳng hạn như áo giáp Nhật Bản.
Vào thời trước Công nguyên, trong khoảng 200 năm, người ta thấy những áo giáp khá đơn giản và thô, chủ yếu có hai loại giáp sắt và giáp da, được làm bằng từng miếng nhỏ khâu móc lại, che phần thân chính, tay và chân có thể để trần, hoặc có giáp ngắn ở bả vai, và có mũ sắt đội khít vào đầu, hình thù như quả dưa hấu có chóp. Loại mũ quả dưa này thực ra phổ biến khắp cả thế giới, cho đến chiếc mũ bảo hiểm ngày nay vẫn có hình dáng tương tự, chứng tỏ với hình thù ấy nó có khả năng bảo vệ đầu tốt.
|
Gỗ có thể dùng làm mộc cứng, che chắn, chứ không tiện cho việc làm áo giáp che thân, bởi nó cứng, không mềm mại vận động theo cơ thể, nên không phổ biến và cũng khó chịu được lực đâm.
Trên thực tế áo giáp da (da trâu là chính) là phổ biến và chịu sát thương tốt nhất, cũng như cho phép cơ động hơn cả. Tuy nhiên nếu mặc một bộ giáp da kiểu thời Tống, đầy đủ từ chân đến đầu, tay cầm một thanh kiếm, thì toàn thân luôn mang theo 12 kg không nhẹ nhàng gì, nhất là vận động trên chiến trường. Giáp da chịu lực đâm chém và tên bắn đều tốt, một cung thủ phải rất khỏe mới có thể bắn xuyên được giáp da.
Giáp da cũng phổ biến trong thời phong kiến ở Việt Nam. Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có nói về việc tập bắn thường niên của binh lính nhà Lê Trịnh, lúc đó đã có dùng súng hỏa mai thô sơ và cung nỏ, nếu binh sỹ nào mà bắn trượt đến ba lần thì phải phạt tiền hoặc nộp hai bộ da trâu, cho quân đội làm áo giáp. Con trâu bấy giờ là đầu cơ nghiệp của nhà nông, hàng chục gia đình mới chung nhau mua được một con, nên đó là án phạt rất nặng.
|
Khi mặc loại áo giáp này, người ta phải có người giúp. Thoạt tiên mặc vào trong một bộ quần áo lụa mỏng, cái áo gọi là thủy y. Sau đó đến một chiếc áo dài bằng sợi hay dạ hai vạt. Hai bộ này nhằm giảm lực cọ xát của giáp trực tiếp vào cơ thể, vì người ta không thể mặc áo giáp sát da thịt mà không bị xây sát. Người mặc lồng từ phía sau lưng vào hai tay, rồi buộc dây chặt phía sau lưng cho giáp ôm gọn lấy người.
Áo bào được khoác vào vai và lồng hai dây qua nách rồi buộc ra sau lưng, để khóa khớp vai cho chặt. Bao tay, bao chân và thắt lưng đeo sau cùng. 4. Bên cạnh đó, tay chiến binh chuyên nghiệp này còn phải mang một cây giáo, một thanh gươm dài, một thanh gươm ngắn giắt vào cánh tay, hoặc thắt lưng, một cây cung có bao và một bao tên. Anh ta không chỉ phải bảo vệ mình, mà còn phải bảo vệ cho con ngựa đang cưỡi.
Nom chiến binh như vậy khá ngoạn mục và đáng kinh hãi, nhưng thực ra rất cồng kềnh, dễ bị tổn thương và nếu phải chiến đấu trong thời tiết nóng thì quả là địa ngục.
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

