thethaovanhoa.vn

950 năm Quốc Tử Giám: Nhà Thái Học - dấu ấn của trường Quốc học xưa

Minh Duyên/TTXVN 05/11/2026 07:12 GMT+7

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho thành lập Quốc Tử Giám phía sau Văn Miếu, mở đầu một thiết chế giáo dục có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho thành lập Quốc Tử Giám phía sau Văn Miếu, mở đầu một thiết chế giáo dục có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc. 

Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Quốc Tử Giám trở thành trung tâm đào tạo Nho học lớn của đất nước, gắn với việc học tập, thi cử và tuyển chọn nhân tài, bồi dưỡng nhiều thế hệ hiền tài phụng sự triều đình, góp sức xây dựng quốc gia hưng thịnh.

Quốc Tử Giám - trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam

"Dục anh tài nhi sử năng, Quốc tử giám cao huyền mô khải;

Dưỡng minh triết dĩ kế trị, Thăng Long kinh trường tụ tinh hoa". (1)

(Đào tạo nhân tài mà sử dụng năng lực, trường Quốc Tử Giám treo cao khuôn mẫu/ Bồi dưỡng minh triết để tiếp nối trị bình, kinh đô Thăng Long tụ mãi tinh hoa).

Hai câu đối trên đã khái quát ý nghĩa của việc học và sứ mệnh của Quốc Tử Giám: đào tạo người tài, bồi dưỡng người có đức, có trí để kế tục sự nghiệp trị nước. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong lịch sử Quốc Tử Giám - ngôi trường Quốc học đầu tiên được thành lập tại Thăng Long năm 1076, dưới triều vua Lý Nhân Tông.

950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026): Nhà Thái Học - dấu ấn của trường Quốc học xưa - Ảnh 1.

Quốc Tử Giám - trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Trước khi Quốc Tử Giám ra đời, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, việc học đã được duy trì trong dân gian, tại các trường tư và nhà chùa. Đến thời Lý, cùng với việc xây dựng bộ máy và củng cố nền độc lập, triều đình chú trọng hơn đến việc tổ chức giáo dục, khoa cử theo Nho học. Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng tại Thăng Long; năm 1075, triều đình mở khoa thi Nho học đầu tiên. Một năm sau, Quốc Tử Giám ra đời, trở thành trường học của triều đình, đảm nhận việc đào tạo con em hoàng tộc, quý tộc và quan lại.

Dưới thời Trần, Quốc Tử Giám có những bước phát triển mới. Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi tên Quốc Tử Giám thành Quốc học viện, mở rộng đối tượng tuyển sinh, cho phép con em thường dân có học lực xuất sắc theo học. Qua thời gian, cánh cửa học tập dần được mở rộng hơn, hướng tới những người có tư chất, năng lực và phẩm hạnh, tạo điều kiện để họ tiến thân bằng con đường học vấn và khoa cử. Những thay đổi về tổ chức và đối tượng học tập phản ánh sự mở rộng của nền giáo dục Nho học, trong đó việc đào tạo nhân tài ngày càng được coi trọng.

Nhắc đến Quốc Tử Giám thời Trần, không thể không nhắc tới Chu Văn An - người thầy từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Với học vấn uyên thâm, nhân cách thanh cao và tinh thần tận tụy với việc dạy học, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử giáo dục nước nhà. Hình ảnh người thầy Chu Văn An cũng góp phần làm sáng rõ một giá trị bền vững của Quốc Tử Giám - việc học không chỉ nhằm đạt danh vị, mà còn hướng con người tới đạo lý, nhân cách và trách nhiệm với đất nước.

Đến thời Lê sơ, dưới triều vua Lê Thánh Tông, Quốc Tử Giám được gọi là Thái học viện và được mở rộng, tổ chức quy củ hơn, tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong nền giáo dục quốc gia. Năm 1483, nhà vua cho mở rộng trường, xây dựng thêm các không gian phục vụ việc giảng dạy, học tập và sinh hoạt của giám sinh. Cùng với việc củng cố Thái học viện, triều đình đặc biệt chú trọng khoa cử, để tuyển chọn người tài, bổ sung cho bộ máy quan lại. "Cứ mỗi khoa thi, cửa nhà Thái học lại treo bảng ghi tên những Tiến sĩ trúng tuyển, dân chúng đất Trường An (Thăng Long) lại một lần lũ lượt tới xem". (2)

Năm 1484, triều đình cho dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, ghi danh những người đỗ đại khoa. Từ đó, tên tuổi các bậc hiền tài được lưu danh trên bia đá, trở thành sự tôn vinh đối với người đỗ đạt và lời nhắc nhở các thế hệ sau về đạo lý trọng hiền tài. Hệ thống 82 bia Tiến sĩ còn lưu giữ đến ngày nay là chứng tích đặc biệt về truyền thống giáo dục, khoa cử và chính sách trọng dụng nhân tài của các triều đại Việt Nam.

950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026): Nhà Thái Học - dấu ấn của trường Quốc học xưa - Ảnh 2.

Lễ dâng hương đầu năm tại Nhà Thái Học. Ảnh: Minh Đức - TTXVN

Quốc Tử Giám thời Lê có những công trình phục vụ tương đối đầy đủ cho hoạt động của một trường học. Tư liệu lịch sử ghi nhận nơi đây có giảng đường, nhà Minh Luân, khu nhà ở dành cho giám sinh và kho chứa ván in sách. Không gian ấy vừa phục vụ việc giảng dạy, học tập, vừa tạo điều kiện cho giám sinh ăn ở, đọc sách và tiếp cận tri thức.

Việc học tại Quốc Tử Giám chủ yếu dựa trên kinh điển Nho giáo, chú trọng cả kiến thức và tu dưỡng đạo đức. Giám sinh được học tập, rèn luyện dưới sự quản lý của các chức quan giáo dục như Tế tửu, Tư nghiệp và những người phụ trách giảng dạy. Những bài học về kinh sử, lễ nghĩa, đạo làm người gắn với mục tiêu chuẩn bị cho các kỳ thi và con đường ra giúp nước. Người học được kỳ vọng trở thành những người có học vấn, có phẩm hạnh, biết đem điều đã học vận dụng vào việc trị nước, an dân.

Qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Quốc Tử Giám đã trải qua nhiều lần đổi tên, mở rộng và tu sửa, song vai trò đào tạo, tuyển chọn nhân tài luôn được duy trì. Từ mái trường này, nhiều thế hệ người học được hun đúc về tri thức và đạo lý, bước vào con đường khoa cử, đảm nhận công việc của triều đình. Bởi vậy, Quốc Tử Giám không chỉ là dấu mốc quan trọng trong lịch sử giáo dục Nho học, mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học, trọng dụng hiền tài và khát vọng xây dựng quốc gia hưng thịnh.

950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026): Nhà Thái Học - dấu ấn của trường Quốc học xưa - Ảnh 3.

Trình diễn nghệ thuật tại buổi Ra mắt sơ đồ và tờ gấp tham quan mới tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Nhà Thái Học - sự tiếp nối không gian giáo dục trong Di tích

Năm 1802, sau khi thiết lập triều Nguyễn, vua Gia Long chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Trung tâm chính trị và giáo dục cấp quốc gia theo đó chuyển dần về kinh đô mới. Tháng 8/1803, triều Nguyễn cho thành lập trường học ở Huế, ban đầu có tên Đốc học đường, sau được gọi là Quốc học đường. Đến tháng 3/1820, dưới triều vua Minh Mạng, trường chính thức mang tên Quốc Tử Giám.

Tại Thăng Long, sau khi triều Nguyễn chuyển kinh đô vào Huế, Quốc Tử Giám không còn giữ vai trò trường học cấp quốc gia. Năm 1805, khu vực này được chuyển thành Học đường phủ Hoài Đức. Về sau, các công trình trường học cũ bị phá dỡ, điện Khải Thánh được xây dựng để thờ cha mẹ Khổng Tử. Khu di tích tiếp tục có những biến đổi về kiến trúc và công năng trong bối cảnh lịch sử mới.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình tại khu vực Quốc Tử Giám chịu nhiều tác động của chiến tranh. Theo tư liệu của Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công trình cũ bị phá hủy trong năm 1946. Sau đó, khu vực này không còn giữ được diện mạo kiến trúc của trường Quốc học xưa. Dù vậy, dấu tích về một thiết chế giáo dục từng tồn tại hơn bảy thế kỷ vẫn được lưu giữ trong lịch sử và không gian di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026): Nhà Thái Học - dấu ấn của trường Quốc học xưa - Ảnh 4.

Người dân và du khách tham quan khu trưng bày chuyên đề “Bia đá kể chuyện” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN

Năm 1999, công trình Nhà Thái Học được khởi công xây dựng trên nền đất cũ của Quốc Tử Giám. Đây là công trình được xây dựng mới theo kiến trúc truyền thống, gợi nhắc dấu ấn của trường Quốc học xưa, chứ không phải là công trình phục dựng nguyên trạng các kiến trúc lịch sử đã mất. Việc xây dựng lại Nhà Thái Học vào cuối thế kỷ XX là một bước trong quá trình phục hồi, tôn tạo quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đồng thời tạo không gian giới thiệu lịch sử giáo dục và truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc.

Nhà Thái Học hiện nay gồm các hạng mục chính: nhà Tiền Đường, nhà Hậu Đường, Tả Vu, Hữu Vu, nhà Chuông và nhà Trống, cổng phía Đông và cổng phía Tây. Các hạng mục được bố trí hài hòa trong tổng thể kiến trúc truyền thống, là không gian phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục và giới thiệu di sản.

Trong đó, nhà Tiền Đường là nơi tổ chức lễ kỷ niệm danh nhân, hội thảo khoa học, triển lãm và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống. Nhà Hậu Đường gồm hai tầng. Tầng dưới đặt tượng thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và không gian trưng bày về "Lịch sử Văn Miếu-Quốc Tử Giám và chế độ học hành thi cử Việt Nam"; tầng trên thờ ba vị vua có đóng góp quan trọng đối với sự hình thành, phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, gồm vua Lý Thánh Tông, vua Lý Nhân Tông và vua Lê Thánh Tông.

Ngày nay, Nhà Thái Học là một trong những không gian quan trọng của Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Bên cạnh chức năng tổ chức triển lãm, hội thảo và các hoạt động văn hóa, công trình còn phục vụ công tác giáo dục di sản, giúp công chúng tìm hiểu về lịch sử Quốc Tử Giám, truyền thống khoa cử và những đóng góp của các thế hệ trí thức đối với đất nước.

Từ một trường học dành cho con em hoàng tộc, quý tộc, Quốc Tử Giám từng bước mở rộng đối tượng đào tạo, trở thành trung tâm giáo dục cấp quốc gia qua nhiều triều đại. Dù kiến trúc xưa không còn, Nhà Thái Học ngày nay vẫn gợi nhắc về lịch sử hơn 7 thế kỷ của ngôi trường, về truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong tổng thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công trình là không gian kết nối những giá trị giáo dục của quá khứ với hoạt động bảo tồn, phát huy di sản trong đời sống hôm nay.

(1) Hai câu đối tại Nhà Bái đường, theo sách Câu đối Thăng Long - Hà Nội do Nguyễn Văn Thịnh chủ biên, Nhà xuất bản Hà Nội, 2010, tr.502.

(2) Theo sách Quốc Tử Giám trí tuệ Việt, của tác giả Đỗ Văn Ninh, Nhà xuất bản Văn hóa -Thông tin, 2010, tr.7.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN