Từ phòng Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học và Y học thể thao tại Hoa Lư năm 2009 đến mạng lưới kết nối khoảng sáu bệnh viện và bốn tổ chức khoa học – công nghệ, TP.HCM đang từng bước đổi mới cách chăm sóc vận động viên. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Từ phòng Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học và Y học thể thao tại Hoa Lư năm 2009 đến mạng lưới kết nối khoảng sáu bệnh viện và bốn tổ chức khoa học – công nghệ, TP.HCM đang từng bước đổi mới cách chăm sóc vận động viên. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Y học thể thao hiện đại không chỉ điều trị chấn thương mà còn giúp phòng ngừa tổn thương, đánh giá thể trạng, cải thiện dinh dưỡng, phục hồi chức năng và nâng cao hiệu suất thi đấu.
Khi thành tích ngày càng phụ thuộc vào sự kết hợp giữa huấn luyện và khoa học, năng lực y học trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển vận động viên.

TS Lý Đại Nghĩa - Giám đốc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao TP.HCM. Ảnh: TT
Theo TS Lý Đại Nghĩa - Giám đốc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao TP.HCM, trong thập niên 1980 và 1990, công tác y tế thể thao tại TP.HCM chủ yếu tập trung theo dõi sức khỏe, chăm sóc vận động viên. Bước chuyển đáng chú ý diễn ra năm 2009, khi Thành phố đầu tư phòng Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học và Y học thể thao tại Hoa Lư, với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân sự vật lý trị liệu và các thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng.
Trước nhu cầu chuyên môn ngày càng đa dạng, một cơ sở đơn lẻ khó đáp ứng toàn bộ yêu cầu chăm sóc thể thao thành tích cao. TP.HCM vì vậy chuyển hướng sang kết nối nguồn lực xã hội, tận dụng năng lực của bệnh viện, tổ chức khoa học – công nghệ và doanh nghiệp.
"Không phải chúng ta đầu tư một cái phòng để chúng ta chăm sóc cho vận động viên của chúng ta. Mà bây giờ chúng ta phải kết nối được nguồn lực của xã hội để cùng tham gia phục vụ, tức là hình thành một mạng lưới về y học để phục vụ cho thể thao", ông Lý Đại Nghĩa chia sẻ.

TP.HCM kỳ vọng vào một mạng lưới về y học chuyên nghiệp để phục vụ cho thể thao địa phương. Ảnh: BV
Theo số liệu TS Lý Đại Nghĩa cung cấp, TP.HCM đang kết nối khoảng sáu bệnh viện và bốn tổ chức khoa học – công nghệ để phục vụ khoảng 4.000 vận động viên. Thay vì đầu tư đầy đủ mọi trang thiết bị tại một địa điểm, mô hình này hướng đến phân công theo thế mạnh của từng đối tác, giúp vận động viên tiếp cận các dịch vụ chuyên sâu.
Phạm vi chăm sóc cũng được mở rộng từ điều trị chấn thương sang những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất thi đấu. Thành phố đã làm việc với Hội Y học Giấc ngủ để hỗ trợ đánh giá chất lượng giấc ngủ, phát hiện vấn đề ảnh hưởng đến hồi phục; đồng thời kết nối doanh nghiệp nghiên cứu hệ vi sinh đường ruột và phối hợp chuyên gia dinh dưỡng cho vận động viên đỉnh cao.
Định hướng này phù hợp với các vấn đề được ngành thể thao Việt Nam đề cập tại những hội nghị khoa học về y học thể thao, gồm phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị chấn thương, phục hồi chức năng và ứng dụng y học nhằm nâng cao thành tích.
Dinh dưỡng cũng là thành tố quan trọng. Nhu cầu năng lượng của vận động viên phụ thuộc vào môn thể thao, cường độ tập luyện và giai đoạn thi đấu. Chế độ dinh dưỡng phù hợp giúp duy trì thể lực, hỗ trợ hồi phục và hạn chế nguy cơ tổn thương. Vì vậy, kết nối chuyên gia dinh dưỡng với đội ngũ huấn luyện có thể mang lại lợi ích thiết thực.
TS Lý Đại Nghĩa cho rằng TP.HCM không thể chờ ngân sách để tự đầu tư tất cả, mà cần tận dụng thế mạnh của các đối tác. Dù vậy, hiệu quả mạng lưới không chỉ nằm ở số lượng đơn vị tham gia, mà còn ở khả năng phối hợp, tần suất hỗ trợ và việc vận động viên có được tiếp cận dịch vụ kịp thời hay không.
Khó khăn lớn nhất hiện nay, theo ông Nghĩa, là duy trì đội ngũ bác sĩ đồng hành thường xuyên cùng các đội tuyển. Chuyên gia bệnh viện có thể hỗ trợ theo từng giai đoạn, trong khi vận động viên tập luyện liên tục và cần được theo dõi xuyên suốt chu kỳ huấn luyện.

Y học thể thao là điều không thể thiếu với VĐV. Ảnh: HSMA
Ông cho biết mức thu nhập khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng cho một vị trí bác sĩ tại đội tuyển khó thu hút nhân sự có chuyên môn tốt. Những vướng mắc về mã ngạch và cơ chế tuyển dụng cũng khiến các đơn vị thể thao gặp khó khi xây dựng đội ngũ y tế chuyên trách.
Vì vậy, bên cạnh huy động nguồn lực xã hội, ngành thể thao cần chú trọng đào tạo bác sĩ, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, chuyên gia dinh dưỡng và xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp. Mạng lưới hợp tác khó phát huy hết tiềm năng nếu thiếu đội ngũ thường trực đủ khả năng theo dõi và xử lý vấn đề sức khỏe của vận động viên.
Quy trình phối hợp giữa bác sĩ, huấn luyện viên và chuyên gia phục hồi cũng cần được chuẩn hóa. Vận động viên phải được đánh giá đúng mức độ chấn thương, có kế hoạch điều trị và chỉ trở lại tập luyện khi đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Rút ngắn thời gian hồi phục không thể đánh đổi bằng nguy cơ tái phát.
Một mục tiêu xa hơn là kéo dài tuổi nghề vận động viên. Thời gian thi đấu đỉnh cao khác nhau tùy môn, một số môn thể thao cơ bản có thể quanh tuổi 27, các môn võ khoảng 28–30 tuổi, trong khi những môn đòi hỏi sự khéo léo, linh hoạt có thể đạt đỉnh sớm hơn, khoảng 18–20 tuổi. Đây là những mốc tham khảo, không phải giới hạn cố định cho mọi vận động viên.
Để kéo dài tuổi nghề, y học thể thao cần kết hợp khoa học huấn luyện, dinh dưỡng, giấc ngủ và đặc điểm vận động từng môn. Phát hiện sớm nguy cơ chấn thương, kiểm soát tải lượng tập luyện và duy trì thể trạng phù hợp có ý nghĩa không kém điều trị sau tổn thương.