Từ nền tảng quản trị số phục vụ Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026, TP.HCM hướng đến mục tiêu kết nối khoảng 300 giải thể thao mỗi năm từ năm 2027, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu dùng chung. Tham vọng này không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng thay đổi phương thức quản lý và tạo nền tảng phát triển lâu dài cho thể thao Việt Nam.
Từ nền tảng quản trị số phục vụ Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026, TP.HCM hướng đến mục tiêu kết nối khoảng 300 giải thể thao mỗi năm từ năm 2027, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu dùng chung. Tham vọng này không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng thay đổi phương thức quản lý và tạo nền tảng phát triển lâu dài cho thể thao Việt Nam.
Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X sắp khởi tranh sẽ phản ánh năng lực tổ chức, điều hành của TP.HCM. Dự kiến diễn ra từ ngày 14/11 đến 12/12, Đại hội quy tụ khoảng 12.000 cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài và vận động viên thuộc 36 đoàn, tranh tài ở 48 môn thể thao với 973 bộ huy chương. ác hoạt động thi đấu được bố trí tại 44 địa điểm, trong đó TP.HCM giữ vai trò đăng cai chính, cùng một số địa điểm phối hợp tại Đồng Nai và Đồng Tháp.

TP.HCM hướng đến tận dụng chuyển đổi số để tổ chức, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu cho hoạt động thể thao. Ảnh: TDTT
Quy mô ấy đặt ra yêu cầu không nhỏ đối với việc quản lý nhân sự, lịch thi đấu, địa điểm, kết quả và hoạt động hậu cần. Nếu tiếp tục phụ thuộc vào hồ sơ giấy, bảng tính riêng lẻ và quy trình trao đổi thủ công, việc cập nhật thông tin giữa các bộ phận sẽ khó tránh khỏi chậm trễ, trùng lặp hoặc sai lệch.
Vì vậy, chuyển đổi số được TP.HCM xác định là một trong những trụ cột quan trọng trong quá trình chuẩn bị Đại hội. Nhưng theo ông Lý Đại Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao TP.HCM, giá trị của hệ thống quản trị số không dừng lại ở một sự kiện thể thao. Điều thành phố hướng đến là tận dụng nền tảng này để tổ chức, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu cho hoạt động thể thao trong những năm tiếp theo.
Hệ thống số phục vụ Đại hội được xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao TP.HCM, Công ty TNHH Đầu tư Thể thao Sài Gòn và đối tác Andros Việt Nam, với sự tham gia của nguồn lực xã hội hóa. Theo thông tin được công bố, nền tảng hướng đến quản lý tập trung các dữ liệu về vận động viên, thành phần đoàn, trọng tài, địa điểm và lịch thi đấu; hỗ trợ cập nhật, kiểm tra kết quả theo thời gian thực, quản lý thẻ điện tử và cung cấp thông tin cho người hâm mộ.
Trước thềm Đại hội, TP.HCM cũng tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ, nhân sự chuyên môn và kỹ thuật viên về vận hành phần mềm, cổng thông tin điện tử.
Đây là khâu quan trọng bởi một hệ thống dù được thiết kế hiện đại đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu người sử dụng chưa thành thạo hoặc các đơn vị chưa thống nhất quy trình cập nhật dữ liệu. Thông tin về chương trình tập huấn và các chức năng của nền tảng.

Từ năm 2027, TP.HCM dự kiến kết nối khoảng 300 giải thể thao tổ chức hằng năm vào một hệ thống chung. Ảnh: Anh Lập
Theo định hướng được ông Nghĩa chia sẻ, từ năm 2027, TP.HCM dự kiến kết nối khoảng 300 giải thể thao tổ chức hằng năm vào một hệ thống chung, bao phủ ba khu vực và 44 môn thể thao. Thay vì mỗi giải đấu vận hành theo một quy trình riêng, thành phố muốn xây dựng phương thức quản trị thống nhất, qua đó giảm công việc trùng lặp và nâng cao khả năng tổng hợp thông tin.
Đây là mục tiêu có ý nghĩa thực tiễn đối với một đô thị có hoạt động thể thao phong phú, từ thể thao thành tích cao, các giải phong trào đến những sự kiện phục vụ cộng đồng. Khi dữ liệu được tổ chức đồng bộ, ban tổ chức có thể thuận lợi hơn trong việc tra cứu hồ sơ, đối chiếu thành tích, lập lịch thi đấu và đánh giá hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa hệ thống đang được triển khai phục vụ Đại hội và kế hoạch mở rộng kết nối khoảng 300 giải đấu từ năm 2027. Khả năng vận hành trên quy mô lớn, mức độ tham gia của từng đơn vị và hiệu quả thực tế vẫn cần được kiểm chứng qua quá trình triển khai.
Thách thức lớn hơn nằm ở việc chuẩn hóa dữ liệu. Theo TS Lý Đại Nghĩa, dữ liệu thể thao rất đa dạng, từ hồ sơ giấy, số liệu thành tích đến hình ảnh và video thi đấu. Mỗi loại dữ liệu có đặc điểm, cách lưu trữ và yêu cầu khai thác khác nhau. Nếu các địa phương và đơn vị sử dụng những tiêu chuẩn riêng, việc kết nối sẽ khó thực hiện ngay cả khi tất cả đều đã ứng dụng công nghệ.
Ông cho rằng cần có một hệ thống tổng hợp chung, trong đó dữ liệu được làm sạch và thống nhất để có thể sử dụng giữa các địa phương và cơ quan quản lý trung ương. Đây là vấn đề vượt ra ngoài phạm vi một kỳ Đại hội, bởi giá trị của dữ liệu chỉ thực sự tăng lên khi có thể được chia sẻ, đối chiếu và tái sử dụng một cách đáng tin cậy.
Chẳng hạn, một hồ sơ vận động viên có thể chứa thông tin định danh, lịch sử thi đấu và thành tích qua nhiều giải. Nếu mỗi đơn vị lưu trữ theo một cấu trúc khác nhau, việc tổng hợp quá trình phát triển của vận động viên sẽ tốn thời gian và dễ phát sinh sai lệch. Ngược lại, khi có chuẩn dữ liệu chung, thông tin có thể hỗ trợ theo dõi thành tích dài hạn, phát hiện tiềm năng và xây dựng kế hoạch huấn luyện phù hợp hơn.
Dữ liệu cũng mở ra cơ hội nâng cao chất lượng quản lý thể thao thành tích cao. Khi hồ sơ vận động viên được cập nhật đầy đủ và có quy trình kiểm soát, các đơn vị có thể từng bước kết nối thông tin về khối lượng tập luyện, thành tích, lịch thi đấu và tình trạng chấn thương. Tuy nhiên, những dữ liệu nhạy cảm như thông tin sức khỏe cần được phân quyền truy cập, bảo vệ và chỉ sử dụng đúng mục đích.
Bên cạnh chuẩn hóa, vấn đề an toàn thông tin cũng cần được đặt ra ngay từ đầu. Một hệ thống kết nối nhiều giải đấu và đơn vị quản lý phải xác định rõ ai có quyền nhập, sửa, xem và khai thác từng nhóm dữ liệu; đồng thời có cơ chế sao lưu, kiểm tra và xử lý sai sót. Nếu thiếu những quy định này, việc tập trung dữ liệu có thể làm tăng rủi ro thay vì chỉ tạo thuận lợi cho quản lý.
Quan trọng hơn, TP.HCM không thể tự giải quyết toàn bộ bài toán liên thông nếu thiếu sự phối hợp và định hướng chung từ cơ quan quản lý thể thao trung ương. Thành phố có thể đi trước trong việc xây dựng mô hình, thử nghiệm quy trình và chứng minh hiệu quả, nhưng để hình thành hệ sinh thái dữ liệu thể thao quốc gia, cần có các tiêu chuẩn chung, cơ chế chia sẻ rõ ràng và sự tham gia của nhiều địa phương.
Bởi vậy, thước đo thành công của chuyển đổi số không nằm ở số lượng phần mềm được đưa vào sử dụng, mà ở việc dữ liệu có được cập nhật thường xuyên, sử dụng đúng chuẩn và tạo ra giá trị sau mỗi giải đấu hay không. Nếu hệ thống phục vụ Đại hội năm 2026 tiếp tục được duy trì, mở rộng và kết nối hiệu quả với các giải thể thao từ năm 2027, TP.HCM có thể tạo ra một mô hình quản trị có khả năng nhân rộng.
Từ một kỳ Đại hội, mục tiêu lớn hơn là xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung cho thể thao Việt Nam. Đó sẽ là di sản số thực chất nhất, không kết thúc khi lễ bế mạc diễn ra, mà tiếp tục hỗ trợ quản lý, phát triển vận động viên và nâng cao chất lượng tổ chức thể thao trong nhiều năm tiếp theo.