Tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến năm 2027, các đại biểu từ Tây Nguyên, Quảng Ngãi và Huế đã mang đến những góc nhìn sắc bén, thực tiễn từ địa phương, để cùng thống nhất quan điểm: Văn hóa là động lực tăng trưởng bền vững.
Tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến năm 2027, các đại biểu từ Tây Nguyên, Quảng Ngãi và Huế đã mang đến những góc nhìn sắc bén, thực tiễn từ địa phương, để cùng thống nhất quan điểm: Văn hóa là động lực tăng trưởng bền vững.
Thông điệp xuyên suốt được khẳng định tại nghị trường là: Phát triển kinh tế không thể đánh đổi bản sắc văn hóa; ngược lại, bảo tồn di sản, chăm lo cho đời sống văn hóa thực chất và thiết lập mô hình quản trị đô thị di sản đồng bộ chính là chìa khóa tạo nên động lực tăng trưởng nội sinh bứt phá, bền vững.
Bài toán giữa phát triển và nguy cơ mai một di sản
Phát biểu tại nghị trường, đại biểu Y Bhen KĐoh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk nói, vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về hành lang kinh tế biển và không gian sinh thái của cả nước. Trong những năm qua, khu vực này đã đạt được nhiều chuyển biến thực chất trên các lĩnh vực.
Về mặt kinh tế, các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế Đông - Tây cùng hệ thống hạ tầng giao thông trọng điểm duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào quy mô kinh tế vùng và toàn quốc.
Về văn hóa - xã hội, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, các di sản miền Trung được UNESCO ghi danh cùng hệ thống di tích lịch sử, lễ hội phong phú chính là nguồn lực nội sinh vô giá để phát triển du lịch và văn hóa bền vững.

Đại biểu Y Bhen Kđoh, Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk, phát biểu thảo luận tại Quốc hội sáng 31/10. Ảnh: Quốc hội
Tuy nhiên, đại biểu Y Bhen KĐoh cũng chỉ rõ khu vực này đang đối mặt với những thách thức, mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống. "Áp lực từ đô thị hóa, sự bùng nổ của du lịch đại trà thiếu kiểm soát cùng quá trình thương mại hóa đang làm thu hẹp và biến dạng các không gian sinh tồn truyền thống như không gian kiến trúc buôn làng, nhà dài, không gian bến nước hay các thiết chế xã hội tự nhiên của đồng bào" - đại biểu nói.
Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu khắc nghiệt không chỉ tàn phá hạ tầng kỹ thuật mà còn làm đứt gãy các sinh kế truyền thống, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa. Thu nhập của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, dân cư vùng biển, bãi ngang vẫn ở mức thấp. "Chế độ đãi ngộ dành cho đội ngũ nghệ nhân - những "báu vật nhân văn sống" đang nắm giữ hồn cốt di sản - vẫn còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với đóng góp của họ trong việc duy trì và truyền dạy văn hóa dân gian" - theo ông Y Bhen Kđoh.
Giải pháp kiến tạo mô hình phát triển bền vững
Xác định văn hóa là 1 trong những trụ cột chính của phát triển bền vững, đại biểu Y Bhen KĐoh đề xuất Chính phủ tập trung triển khai 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết các hạn chế, tạo đà bứt phá cho vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
Đại biểu cho rằng, trước hết, Chính phủ cần hoàn thiện thể chế đặc thù, lồng ghép chỉ số văn hóa vào quy hoạch phát triển kinh tế. Việc xây dựng khung chính sách đặc thù về tín dụng, đầu tư công và cơ chế tài chính hỗn hợp sẽ tạo động lực huy động tối đa các nguồn lực xã hội hóa cho công tác bảo tồn. Đặc biệt, đại biểu Y Bhen KĐoh nhấn mạnh quy định bắt buộc phải có báo cáo đánh giá tác động văn hóa - xã hội khi phê duyệt các quy hoạch khu công nghiệp, đô thị, dự án thủy điện hoặc hạ tầng giao thông lớn tại miền Trung - Tây Nguyên, kiên quyết không đánh đổi bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.
Thứ hai là xây dựng mô hình kinh tế di sản và sinh kế gắn với bản sắc cộng đồng, chuyển đổi mạnh mẽ mô hình du lịch từ khai thác cảnh quan thuần túy sang kinh tế trải nghiệm di sản văn hóa bản địa. Đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho cộng đồng dân cư - đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số - để họ trở thành chủ thể trực tiếp quản lý, khai thác và hưởng lợi từ du lịch. Đồng thời, theo đại biểu Y Bhen KĐoh, Chính phủ cần ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống, phục dựng các không gian văn hóa nguyên bản gắn với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Thứ ba, đại biểu tỉnh Đắk Lắk đề xuất Chính phủ cho phép các địa phương thiết lập quỹ bảo tồn di sản có nguy cơ mai một và áp dụng chính sách đãi ngộ đặc thù cho nghệ nhân. Đây là giải pháp cấp thiết nhằm kịp thời cứu lấy các di sản phi vật thể đang trước bờ vực thất truyền như tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật trình diễn dân gian, luật tục... "Đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý về chế độ đãi ngộ đặc thù cho Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú - những người đang giữ "hồn cốt" di sản, đang giữ vai trò nòng cốt trong việc trao truyền di sản cho thế hệ mai sau, nhưng đa số hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn" - ông nói.
Đầu tư thực chất cho đời sống văn hóa và phát triển đô thị di sản
Cùng chung mối quan tâm về văn hóa và giáo dục ở khu vực khó khăn, đại biểu Nàng Xô Vi, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi tư duy trong quản lý và phân bổ nguồn lực đầu tư cho văn hóa.

Đại biểu Nàng Xô Vi, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi, phát biểu tại Quốc hội chiều 30/10. Ảnh: Quốc hội
Đại biểu Nàng Xô Vi cho rằng, cần chuyển mạnh từ tư duy "đầu tư cho văn hóa theo công trình" sang "đầu tư cho đời sống văn hóa thực chất của người dân".
Đại biểu phân tích, báo cáo thẩm tra đã chỉ rõ thực trạng đầu tư cho văn hóa còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, hệ thống thiết chế văn hóa còn hạn chế và hạ tầng văn hóa - thể thao ở khu vực vùng sâu, vùng xa, hải đảo còn thiếu.
"Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, văn hóa là tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tri thức dân gian và các giá trị truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nếu chỉ chú trọng xây dựng công trình mà thiếu kinh phí vận hành, thiếu người tổ chức hoạt động và không gian thực hành thì thiết chế văn hóa khó phát huy hiệu quả" - đại biểu Nàng Xô Vi nhấn mạnh.
Từ thực tế đó, bà đề nghị Chính phủ rà soát hiệu quả sử dụng các thiết chế văn hóa hiện có, phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tế và bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy, bảo tồn tiếng nói, chữ viết và văn hóa truyền thống gắn với sự tham gia của cộng đồng.
Ở góc nhìn quản trị đô thị và kinh tế di sản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Huế, đưa ra những phân tích về mô hình phát triển đô thị di sản bền vững từ thực tiễn triển khai tại Huế.
Bà khẳng định phát triển đô thị di sản không phải là sự đánh đổi hoặc lựa chọn giữa "bảo tồn" và "phát triển", mà là việc xác lập một mô hình quản trị đồng bộ, lấy văn hóa và di sản làm động lực tăng trưởng nội sinh.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Việt Nam sở hữu hệ thống đô thị di sản phong phú, được hình thành trên nền tảng lịch sử, văn hóa, kiến trúc và cảnh quan đặc sắc. Đây không chỉ là tài sản quý giá của dân tộc mà còn là nguồn lực nội sinh, lợi thế cạnh tranh và động lực trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, phát triển đô thị di sản đang đứng trước một bài toán lớn: Làm thế nào để vừa hiện đại hóa đô thị, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao đời sống nhân dân, vừa bảo đảm bảo tồn được tính nguyên gốc của di sản, bản sắc văn hóa, cảnh quan và không gian sống của cộng đồng?
Đại biểu phân tích, nếu phát triển thiếu kiểm soát, di sản có thể bị thương mại hóa, cảnh quan bị biến dạng, môi trường quá tải, người dân mất dần sinh kế truyền thống. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng bảo tồn mà thiếu cơ chế khai thác hợp lý và nguồn lực đầu tư, di sản cũng khó phát huy đầy đủ giá trị.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề xuất mô hình phát triển đô thị di sản bền vững dựa trên 5 trụ cột: Bảo tồn là nền tảng - Di sản là nguồn lực - Văn hóa là động lực - Người dân là chủ thể - Chất lượng sống là mục tiêu.
Khung giải pháp chiến lược và kiến nghị thể chế hóa vào Nghị quyết Quốc hội
Từ thực tiễn triển khai tại thành phố Huế và kinh nghiệm của các địa phương, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề xuất 3 nhóm giải pháp mang tính chiến lược.
Một là, đổi mới tư duy quy hoạch và quản trị, tích hợp quy hoạch bảo tồn với quy hoạch phát triển đô thị, giao thông, hạ tầng, du lịch và môi trường. Theo bà, cần xác định rõ ranh giới bảo vệ, vùng đệm, hành lang cảnh quan, giới hạn xây dựng và sức chịu tải của từng khu vực. Các dự án có nguy cơ ảnh hưởng đến di sản phải được đánh giá tác động trực tiếp và cộng dồn, có sự tham gia, tham vấn chuyên gia và cộng đồng, đồng thời dựa trên nguyên tắc phát triển hạ tầng phải đồng bộ nhưng không đánh đổi cảnh quan và cấu trúc di sản.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn ĐBQH thành phố Huế, phát biểu tại Quốc hội sáng 31/10. Ảnh: Quốc hội
Hai là, chuyển hóa giá trị di sản thành động lực tăng trưởng mới. Theo bà, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và du lịch chất lượng cao. Kết nối di sản với nghệ thuật, lễ hội, ẩm thực, làng nghề và các sản phẩm văn hóa đặc sắc. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và phát huy di sản. Từ đó, chuyển từ tư duy "tăng số lượng khách" sang "nâng cao chất lượng trải nghiệm", thời gian lưu trú, giá trị gia tăng và hiệu quả lan tỏa đến kinh tế địa phương.
Ba là, đổi mới huy động và sử dụng nguồn lực, bảo đảm người dân được tham gia và thụ hưởng. Bà nhấn mạnh, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, giao thông xanh, xử lý môi trường và các công trình thích ứng biến đổi khí hậu. Huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, quản lý công khai, minh bạch và gắn phân bổ nguồn lực với kết quả bảo tồn cụ thể. Đặc biệt, cần có chính sách cụ thể đối với người dân duy tu nhà ở, bảo vệ nghề truyền thống, tạo sinh kế, bảo đảm cộng đồng thực sự là chủ thể gìn giữ và phát huy di sản.
Nhằm cụ thể hóa các giải pháp này vào khuôn khổ pháp lý, đại biểu Nguyễn Thị Sửu kiến nghị Quốc hội xem xét bổ sung vào cuối mục 3.7 Điều 3 của dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 nội dung: "Phát triển đô thị di sản gắn bảo tồn với phát triển; tích hợp bảo tồn trong quy hoạch, quản lý đô thị; kiểm soát xây dựng, sức chịu tải; gắn kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, du lịch với hạ tầng, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số".
Những đề xuất tâm huyết, mang tính chiến lược của các đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận đã phần nào phác thảo nên góc nhìn về định hướng phát triển văn hóa gắn liền với kinh tế. Việc thiết lập quỹ bảo tồn di sản có nguy cơ mai một, áp dụng chính sách đặc thù cho nghệ nhân, chuyển tư duy đầu tư công trình sang đầu tư cho đời sống văn hóa thực chất, cùng việc thể chế hóa mô hình quản trị đô thị di sản bền vững, không chỉ giúp giải quyết các vấn đề của địa phương, mà còn góp phần tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ cho khu vực và cả nước.
Việc lồng ghép hợp lý các chỉ số văn hóa và di sản vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2027 sẽ là 1 trong những bước đi quan trọng để đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực bứt phá bền vững của dân tộc trong giai đoạn mới!
Việc thiết lập quỹ bảo tồn di sản có nguy cơ mai một, áp dụng chính sách đặc thù cho nghệ nhân, chuyển tư duy đầu tư công trình sang đầu tư cho đời sống văn hóa thực chất, cùng việc thể chế hóa mô hình quản trị đô thị di sản bền vững, không chỉ giúp giải quyết các vấn đề của địa phương, mà còn góp phần tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ cho khu vực và cả nước.