thethaovanhoa.vn

950 năm Văn Miếu-Quốc Tử Giám: Biểu tượng truyền thống hiếu học của dân tộc

Diệp Ninh (tổng hợp)/ TTXVN 01/11/2026 06:58 GMT+7

Thăng Long-Hà Nội là vùng đất nghìn năm văn hiến, nơi hội tụ và kết tinh những giá trị đặc sắc của lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong dòng chảy ấy, Văn Miếu-Quốc Tử Giám giữ vị trí đặc biệt, là biểu tượng tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của đất nước.

Thăng Long-Hà Nội là vùng đất nghìn năm văn hiến, nơi hội tụ và kết tinh những giá trị đặc sắc của lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong dòng chảy ấy, Văn Miếu-Quốc Tử Giám giữ vị trí đặc biệt, là biểu tượng tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của đất nước.

* Văn Miếu-Quốc Tử Giám: Ngôi trường đại học đầu tiên ở nước ta

Năm 1010, vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đặt tên kinh đô là Thăng Long, mở ra một thời kỳ phát triển mới của quốc gia Đại Việt. Cùng với việc xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ và ngày càng cường thịnh, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước quan tâm đến giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước.

Năm 1070, dưới triều vua Lý Thánh Tông, Văn Miếu được xây dựng tại kinh thành Thăng Long để thờ Khổng Tử, Chu Công và các bậc hiền nho. Sáu năm sau, năm 1076, Vua Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám phía sau Văn Miếu, mở đầu một thiết chế giáo dục có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Thời kỳ đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc quyền quý, đại thần theo học nên được gọi là Quốc Tử. Người đầu tiên theo học tại đây là hoàng tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan. Năm 1156, Văn Miếu được vua Lý Anh Tông cho sửa sang và chỉ thờ Khổng Tử.

950 năm Văn Miếu-Quốc Tử Giám (1076-2026): Biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của đất nước - Ảnh 1.

Bia đá tại Văn Miếu không chỉ là hiện vật lưu giữ lịch sử mà đang trở thành “phương tiện kể chuyện” nhờ ứng dụng ánh sáng và công nghệ số, góp phần đưa di sản từ trạng thái tĩnh sang trải nghiệm tương tác. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN

Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện, mở rộng đối tượng tuyển sinh, cho phép con em thường dân có học lực xuất sắc theo học. Chu Văn An được cử làm Quốc Tử Giám Tư nghiệp dưới triều vua Trần Minh Tông và trực tiếp giảng dạy các hoàng tử. Sau khi ông mất năm 1370, vua Trần Nghệ Tông cho thờ ông tại Văn Miếu bên cạnh nơi thờ Khổng Tử.

Đến thời Hậu Lê, truyền thống khoa cử phát triển mạnh. Năm 1484 Vua Lê Thánh Tông khởi xướng việc lập bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám thể hiện tinh thần đề cao Nho học, trọng hiền tài. Đến nay, tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám còn 82 bia tấm bia tiến sĩ ghi danh những người đỗ đạt trong các kỳ thi đại khoa từ thời Lê đến thời Mạc. Mỗi tấm bia không chỉ đơn thuần là bản danh sách họ tên, mà còn chứa đựng những bài ký sâu sắc về triết lý giáo dục và quản trị quốc gia. Câu nói bất hủ của Thân Nhân Trung trên tấm bia khoa Nhâm Tuất (1442): “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên”, cho thấy một tầm nhìn chiến lược về giáo dục mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Năm 2010, 82 tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức Thế giới. Năm 2012, Văn Miếu-Quốc Tử Giám được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt.

Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám không chỉ là một địa điểm tham quan du lịch mà còn là không gian văn hóa sống động. Đây là nơi tổ chức các lễ tôn vinh thủ khoa, các buổi trao bằng tốt nghiệp hay các cuộc thi thư pháp, hội thơ đầy ý nghĩa. Vào mỗi mùa thi, hàng ngàn sĩ tử khắp nơi lại tìm về đây để dâng hương, cầu mong sự thông tuệ và thành công trên con đường học vấn. Không gian thiêng liêng này giúp mỗi người trẻ hiểu sâu sắc hơn về giá trị của sự khổ luyện và lòng kiên trì trong việc tiếp nhận tri thức, đồng thời tự hào về bề dày văn hóa của cha ông.

Trong nhịp sống hiện đại, Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ để tiếp cận gần hơn với công chúng. Các tour du lịch đêm kết hợp trình diễn ánh sáng 3D mapping đã tái hiện sinh động lịch sử khoa bảng Việt Nam, mang đến những trải nghiệm thị giác và cảm xúc mới lạ cho du khách.

950 năm Văn Miếu-Quốc Tử Giám (1076-2026): Biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của đất nước - Ảnh 2.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của Thủ đô. Ảnh: Khánh Hoà – TTXVN

Việc số hóa dữ liệu về các tấm bia tiến sĩ giúp người dân có thể tra cứu thông tin về tiền nhân một cách dễ dàng qua các ứng dụng di động. Sự kết hợp giữa công nghệ và di sản không làm mất đi vẻ cổ kính vốn có mà trái lại, còn giúp ngọn lửa tri thức nghìn năm được truyền tải rộng rãi và bền vững hơn trong lòng thế hệ trẻ.

* Lan tỏa tinh hoa đạo học, khơi dậy khát vọng hiền tài

Điều làm nên giá trị đặc biệt của Văn Miếu-Quốc Tử Giám không chỉ nằm ở kiến trúc cổ kính hay chiều dài lịch sử, mà bởi di tích đã kết tinh và lưu giữ những giá trị nền tảng của đạo học Việt Nam: Tinh thần hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo, trọng dụng hiền tài và niềm tin vào sức mạnh của tri thức.

Từ khi Văn Miếu được xây dựng năm 1070 và Quốc Tử Giám ra đời năm 1076, cha ông ta đã khẳng định tầm nhìn vượt trước thời đại, muốn quốc gia hưng thịnh phải lấy giáo dục làm gốc, lấy nhân tài làm động lực phát triển. Tư tưởng ấy được hun đúc qua nhiều thế kỷ, trở thành một phần trong bản sắc văn hóa Việt Nam và vẫn còn nguyên ý nghĩa trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hôm nay. Bởi vậy, Văn Miếu-Quốc Tử Giám vừa là chứng nhân của lịch sử, đồng thời trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam, truyền thống trọng người tài và khát vọng dựng xây đất nước bằng tri thức.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, đặc biệt khi tri thức và khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia. Bởi vậy, đầu tư cho giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài luôn là chiến lược trọng tâm dài hạn của quốc gia. Hiền tài của thời đại mới phải hội tụ tri thức, đạo đức, bản lĩnh, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng phụng sự Tổ quốc. Đó chính là nguồn nguyên khí để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

950 năm Văn Miếu-Quốc Tử Giám (1076-2026): Biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của đất nước - Ảnh 3.

Trình diễn nghệ thuật "ĐẠO HỌC" – Tôn vinh giá trị giáo dục Việt Nam và giá trị Quốc Tử Giám. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN

Kế thừa truyền thống trọng dụng nhân tài của dân tộc, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm phát hiện, thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài. Nhiều chủ trương, định hướng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng người có tài năng được đề cập trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị, gắn với các định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Mới đây, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Trong đó, chiến lược nhân tài đặt trọng dụng ở vị trí then chốt, gắn thu hút với đào tạo, phát triển và cống hiến. Căn cứ nhiệm vụ chiến lược để tìm người, giao việc, trao quyền, bảo đảm nguồn lực; giữ người bằng môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo, ghi nhận xứng đáng.

Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững cũng nêu rõ yêu cầu đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài, chuyển từ quản lý con người theo tổ chức, biên chế, sang lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo. Trong đó trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn nhân tài là nhiệm vụ căn bản, lâu dài. Toàn văn 4 chương của bản Kết luận đã khẳng định quan điểm chọn hiền tài chủ yếu bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ và giá trị tạo ra. Truyền thống trọng hiền tài được tiếp nối bằng một cơ chế hiện đại: “trọng” theo mạch nguồn đạo đức dân tộc, “dụng” theo yêu cầu của thể chế văn minh.

Từ tư tưởng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” của danh sĩ Thân Nhân Trung được khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, đến những chủ trương của Đảng trong thời kỳ đổi mới và quyết sách mới tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV là sự kế thừa, phát triển nhất quán một vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với vận mệnh đất nước. Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã đi qua 950 năm lịch sử, nhưng giá trị của việc học và khát vọng hiền tài vẫn còn nguyên sức sống, trở thành nguồn lực tinh thần để dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới bằng tri thức, trí tuệ và khát vọng vươn lên.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN