Triển khai tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã đưa công nghệ số vào quản lý, đào tạo và lưu trữ tư liệu.
Triển khai tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã đưa công nghệ số vào quản lý, đào tạo và lưu trữ tư liệu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, Học viện vẫn đối mặt với những điểm nghẽn về nhân lực, hạ tầng và dữ liệu - những yếu tố trọng tâm được Nghị quyết 57 đặt ra.
Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Nguyễn Huy Phương, Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, về những kết quả chuyển đổi số Học viện đã đạt được và các điểm nghẽn cần khơi thông trong quá trình triển khai Nghị quyết 57.
Nền tảng số từ quản lý đào tạo đến học liệu

PGS-TS Nguyễn Huy Phương
* Triển khai Nghị quyết 57, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm nào về công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, đào tạo, nghiên cứu âm nhạc, thưa ông?
- Chúng tôi tập trung vào 3 nhiệm vụ: Hoàn thiện quản lý đào tạo trên môi trường số; phát triển học liệu và công cụ hỗ trợ giảng dạy, luyện tập; số hóa tư liệu phục vụ nghiên cứu và bảo tồn âm nhạc. Mục tiêu là giúp người học tiếp cận thông tin, học liệu thuận lợi hơn, giảng viên có thêm công cụ chuyên môn và các đơn vị phối hợp trên dữ liệu thống nhất.
Học viện đã ứng dụng hệ thống quản lý dữ liệu e-VNAM từ năm 2020, phục vụ quản lý người học, kết quả học tập, học phí và học bạ điện tử ở các trình độ trung cấp, đại học và sau đại học. Theo tổng hợp của bộ phận đào tạo, 100% người học tham gia sử dụng các ứng dụng chuyển đổi số phục vụ đào tạo. Thư viện đã số hóa khoảng 25.000 tài liệu, trong đó khoảng 19.000 tài liệu chuyên ngành. Đây là những nền tảng cụ thể để tiếp tục phát triển, khi người học có thể tra cứu điểm, thời khóa biểu và kết quả học tập trực tuyến; các bộ phận quản lý thuận lợi hơn trong cập nhật, đối chiếu hồ sơ và phối hợp xử lý công việc.
Giai đoạn tới, chúng tôi ưu tiên chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và hiệu quả khai thác học liệu. Trong nghiên cứu, Viện Âm nhạc đang triển khai nhiệm vụ "Nghiên cứu giải pháp ứng dụng công nghệ số trong đào tạo, bảo tồn và phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam" giai đoạn 2026-2027. Học viện sẽ gắn đầu tư công nghệ với bồi dưỡng đội ngũ và nhu cầu thực tế của từng đơn vị.
* Trong các lĩnh vực piano, dây, kèn - gõ, thanh nhạc, sáng tác - chỉ huy - âm nhạc học, jazz và âm nhạc truyền thống, nhu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ khác nhau như thế nào? Việc ứng dụng có khác nhau giữa các trình độ đào tạo không?
- Sự khác biệt trước hết nằm ở yêu cầu chuyên môn. Với piano, dây và kèn - gõ, ghi âm, ghi hình hỗ trợ người học nghe lại, quan sát thao tác và trao đổi với giảng viên về kỹ thuật, tiết tấu, âm sắc. Thanh nhạc chú trọng thêm phát âm, ngôn ngữ và diễn xuất; chất lượng âm thanh và việc hướng dẫn trực tiếp vẫn rất quan trọng.
Sáng tác cần công cụ chép nhạc, phối khí và dựng bản nghe thử; chỉ huy cần tổng phổ và tư liệu biểu diễn để phân tích; âm nhạc học cần công cụ tra cứu, tổ chức và đối chiếu tư liệu. Jazz có điều kiện sử dụng nhạc đệm số để luyện tiết tấu, hòa âm và ứng tác.
Tại Khoa Jazz, học liệu và nhạc đệm số được khai thác trong cả 5 chuyên ngành: Piano, guitar, bass, trống và saxophone. Với âm nhạc truyền thống, công nghệ đặc biệt hữu ích trong lưu giữ cách diễn tấu, luyến láy và phong cách của nghệ nhân, gắn với bối cảnh thực hành di sản.
Tiếp đến, về trình độ, trung cấp cần công cụ đơn giản, phù hợp lứa tuổi, giúp hình thành thói quen luyện tập đúng dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Đại học tăng yêu cầu tự học, tự đánh giá và thực hiện sản phẩm chuyên môn; sau đại học chú trọng tư liệu chuyên sâu và phương pháp nghiên cứu. Học viện lựa chọn mức độ ứng dụng theo nhu cầu và điều kiện của từng chuyên ngành.

Giao diện tra cứu Hệ thống thư viện của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, với khoảng 25.000 tài liệu đã số hóa. Ảnh chụp màn hình
* Hiện nay, trên hệ thống quản lý đào tạo trực tuyến, e-VNAM, học bạ điện tử và thời khóa biểu của Học viện được giới thiệu trên website đang vận hành ở mức độ nào? Những khâu nào đã chuyển sang môi trường số, hiệu quả thực tế và khả năng liên thông ra sao?
- Hệ thống quản lý dữ liệu e-VNAM đã được Học viện ứng dụng từ năm 2020. Hiện các hệ thống phục vụ quản lý đào tạo, học bạ điện tử, điểm và thời khóa biểu được sử dụng trong công việc thực tế ở cả 3 trình độ: trung cấp, đại học và sau đại học. Các khâu quản lý dữ liệu học tập, tính điểm, xếp thời khóa biểu và công bố kết quả đã được thực hiện trên môi trường số.
Theo bộ phận Đào tạo của chúng tôi, 100% người học tham gia sử dụng các ứng dụng phục vụ đào tạo. Thông tin điểm và thời khóa biểu được chuyển đến người học qua tài khoản email, đồng thời có thể tra cứu trực tuyến. Người học chủ động theo dõi lịch học, lịch thi và kết quả; các bộ phận quản lý thuận lợi hơn trong cập nhật, đối chiếu hồ sơ và phối hợp xử lý công việc.
Dữ liệu đào tạo, học bạ, thời khóa biểu và kênh thông báo cá nhân đã có khả năng kết nối trong phạm vi phục vụ quản lý đào tạo của Học viện. Trọng tâm tiếp theo là tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, tối ưu khả năng tích hợp và bảo đảm an toàn thông tin. Hiệu quả hiện thể hiện rõ ở sự thuận tiện, minh bạch và khả năng theo dõi thông tin; việc lượng hóa thời gian, chi phí tiết kiệm sẽ cần được theo dõi theo từng quy trình.

Sinh viên Khoa Jazz biểu diễn trong chương trình hòa nhạc Jazz & Friends IX - Youth tại Phòng Hòa nhạc Nhỏ, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, tối 9/10/2026. Ảnh: Hòa Nguyễn
Công nghệ hỗ trợ, không thay thế thực hành âm nhạc
* Sau thời gian áp dụng, Học viện nhận thấy những tác động của công nghệ đối với phương pháp giảng dạy, quy trình thực hành hoặc kết quả học tập diễn ra ở những chuyên ngành nào?
- Thay đổi rõ nhất là giảng viên có thể kết hợp bản nhạc, âm thanh và hình ảnh trong bài học; người học có thêm điều kiện luyện tập, nghe lại và tự đối chiếu trước khi nhận phản hồi. Ở lý thuyết, ký xướng âm và luyện nghe, học liệu điện tử hỗ trợ bài tập gắn trực tiếp với ví dụ âm thanh. Với jazz, nhạc đệm số hỗ trợ luyện tiết tấu, hòa âm và ứng tác ngoài giờ học. Việc tổ chức học, thi trực tuyến trong thời kỳ Covid-19 cũng góp phần duy trì hoạt động đào tạo.
Những kết quả này cho thấy thay đổi về cách tổ chức dạy học và điều kiện tự học. Tuy nhiên, để xác định mức tiến bộ chuyên môn do công nghệ mang lại, Học viện cần tiếp tục hoàn thiện việc theo dõi, so sánh trên cùng tiêu chí. Hiện tại, chúng tôi chưa có bộ số liệu so sánh trước và sau đủ đồng nhất để công bố một tỷ lệ tăng điểm hay tiến bộ cho toàn Học viện.
Hướng đánh giá là đối chiếu độ chính xác về cao độ, tiết tấu trong ký xướng âm, luyện nghe; kỹ thuật và khả năng xử lý tác phẩm trong biểu diễn; đồng thời theo dõi mức độ sử dụng học liệu và chất lượng tự học. Kết quả phải được giảng viên, hội đồng chuyên môn thẩm định, bởi tiến bộ của người học còn phụ thuộc vào nền tảng, phương pháp giảng dạy và quá trình luyện tập.

Hướng dẫn cài đặt ứng dụng VNAM-eStudent trên Cổng thông tin học sinh, sinh viên của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, giúp người học tra cứu điểm, thời khóa biểu và nhận thông báo trên điện thoại. Ảnh: Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
* Vậy còn trong đào tạo biểu diễn chuyên nghiệp, công đoạn nào có thể được công nghệ hỗ trợ hiệu quả và công đoạn nào vẫn cần tương tác trực tiếp? Có khác biệt gì giữa đào tạo trung cấp dài hạn và đại học?
- Công nghệ hỗ trợ hiệu quả ở khâu chuẩn bị bài và tự luyện: Tìm bản nhạc, nghe tư liệu, ghi âm, ghi hình, xem lại quá trình thực hiện và trao đổi phản hồi. Trong đào tạo biểu diễn, việc nghe lại chính mình giúp người học nhận ra những chi tiết khó tự nhận biết khi đang chơi đàn hoặc hát.
Những khâu xây dựng và điều chỉnh kỹ thuật vẫn cần tương tác trực tiếp. Giảng viên phải nghe âm thanh thực tế, quan sát tư thế, độ thả lỏng, động tác, hơi thở và hướng dẫn người học điều chỉnh ngay. Hòa tấu, làm việc với dàn nhạc còn đòi hỏi khả năng nghe nhau, phản ứng và phối hợp trong cùng không gian.
Với trung cấp dài hạn, người học đang hình thành nền tảng kỹ thuật nên cần hướng dẫn trực tiếp thường xuyên và sử dụng công nghệ phù hợp lứa tuổi. Ở đại học, sinh viên có thể chủ động hơn trong tìm tư liệu, ghi và phân tích bài tập, thực hiện dự án. Công nghệ được lựa chọn theo từng công đoạn, nhằm nâng cao chất lượng giờ học và quá trình luyện tập.
* Tính đến thời điểm này, Học viện đã triển khai hoạt động số hóa giáo trình, bản nhạc, tư liệu âm thanh, công trình nghiên cứu và các học liệu khác đến đâu? Các khoa và người học tiếp cận, khai thác những nguồn tư liệu đó như thế nào?
- Chúng tôi đã có kết quả cụ thể ở 2 nguồn học liệu và tư liệu lớn. Tại Thư viện, khoảng 25.000 tài liệu đã được số hóa, trong đó có khoảng 19.000 tài liệu chuyên ngành và 1.857 sách đại cương. Các nhóm còn lại gồm bản nhạc khí nhạc Việt Nam chưa xuất bản, sách lý luận, tài liệu hòa tấu dàn nhạc, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn và tác phẩm tốt nghiệp chuyên ngành sáng tác. Tại Viện Âm nhạc, khối lượng đã số hóa để lưu trữ gồm gần 3.000 tệp ghi hình với hơn 500 giờ, hơn 100 tệp âm thanh với hơn 300 giờ và khoảng 1.500 tệp ảnh, văn bản. Đây là nguồn tư liệu có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy và bảo tồn âm nhạc truyền thống.
Giảng viên, người học khai thác học liệu thông qua thư viện điện tử, nguồn học liệu của các khoa và phối hợp với đơn vị quản lý tư liệu theo nhu cầu chuyên môn, phạm vi được phép sử dụng. Với tư liệu di sản, số hóa để lưu trữ là nền tảng; việc chuẩn hóa thông tin, tổ chức tra cứu và mở rộng khả năng tiếp cận vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
"Công nghệ được lựa chọn theo từng công đoạn, nhằm nâng cao chất lượng giờ học và quá trình luyện tập" - PGS-TS Nguyễn Huy Phương.
Kho tư liệu của Viện còn hàng nghìn giờ băng và hàng chục nghìn trang tài liệu, nên công việc được triển khai theo lộ trình, ưu tiên tư liệu quý, có nguy cơ xuống cấp và phục vụ trực tiếp đào tạo, nghiên cứu. Hướng phát triển là xây dựng kho dữ liệu số về âm nhạc các dân tộc Việt Nam, gắn bảo quản lâu dài với khai thác hiệu quả và tôn trọng quyền đối với tư liệu.
Gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, nhân lực và dữ liệu
* Những yêu cầu về thiết bị chuyên dụng, học liệu, đội ngũ và kinh phí đang đặt ra như thế nào?
- Có 4 yêu cầu gắn chặt với nhau: Thiết bị đáp ứng chuyên môn, học liệu có chất lượng, đội ngũ sử dụng và vận hành được công nghệ, cùng kinh phí duy trì lâu dài. Đào tạo âm nhạc cần máy tính, đường truyền, thiết bị thu thanh, ghi hình, hệ thống nghe và phần mềm chuyên dụng; đặc biệt, điều kiện âm học và chất lượng bản ghi phải đủ để giảng viên đánh giá chính xác. Kinh phí đầu tư cần bao gồm cả chi phí số hóa, bản quyền, lưu trữ, bảo trì và nâng cấp hệ thống.
Về nhân lực, cần bồi dưỡng giảng viên cách đưa công nghệ vào bài học, đồng thời củng cố đội ngũ quản trị dữ liệu, thu thanh và hỗ trợ kỹ thuật. Với tư liệu truyền thống, cán bộ kỹ thuật phải phối hợp với nhà nghiên cứu và người am hiểu di sản. Học viện sẽ ưu tiên từng hạng mục theo mức độ cần thiết và khả năng sử dụng, để thiết bị, học liệu và nhân lực được đầu tư phù hợp với nhau.

Cán bộ Viện Âm nhạc sưu tầm, ghi hình dân ca, dân nhạc của người La Hủ tại xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu, năm 2026. Ảnh: Viện Âm nhạc
* Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57, Học viện có những điều chỉnh, nhiệm vụ cụ thể nào về chuyển đổi số? Những khó khăn nào cần sự hỗ trợ từ cơ quan chủ quản, thưa ông?
- Đối với Học viện, triển khai tinh thần Nghị quyết 57 là cụ thể hóa yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào quản lý đào tạo, đổi mới học liệu và bảo tồn âm nhạc. Học viện đang xây dựng định hướng phát triển giai đoạn 2026 - 2031, trong đó chuyển đổi số là một nhiệm vụ trọng tâm; các nền tảng quản lý và nguồn tư liệu đã có sẽ tiếp tục được hoàn thiện, kết nối và khai thác hiệu quả hơn.
Một nhiệm vụ cụ thể đang thực hiện là nghiên cứu giải pháp ứng dụng công nghệ số trong đào tạo, bảo tồn và phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam giai đoạn 2026 - 2027 tại Viện Âm nhạc. Đây là hướng kết nối nghiên cứu với nhu cầu đào tạo và bảo tồn; kết quả sẽ được đánh giá theo tiến độ và sản phẩm của nhiệm vụ.
Khó khăn chủ yếu là nguồn lực đầu tư, nhân lực kỹ thuật và khối lượng tư liệu cần xử lý lớn, trong khi đào tạo âm nhạc có yêu cầu riêng về âm thanh, thực hành và thẩm định chuyên môn. Chúng tôi mong Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm hỗ trợ thiết bị và hạ tầng lưu trữ, bồi dưỡng đội ngũ, hướng dẫn chuẩn dữ liệu và tạo điều kiện hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, đối tác công nghệ. Sự hỗ trợ này sẽ giúp Học viện mở rộng những kết quả đã có theo lộ trình phù hợp.
* Những lĩnh vực nào cần ưu tiên đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nghệ sĩ thời gian tới?
- Ưu tiên trước hết là học liệu số và công nghệ phục vụ trực tiếp giảng dạy, luyện tập: Bản nhạc, giáo trình, tư liệu nghe nhìn, thiết bị thu thanh, ghi hình và nghe lại. Với nguồn khoảng 25.000 tài liệu thư viện đã số hóa, nhiệm vụ tiếp theo là nâng chất lượng tra cứu và khai thác, đưa học liệu vào bài học và hoạt động tự học thuận tiện hơn.
Ưu tiên thứ hai là bảo tồn tư liệu âm nhạc truyền thống, nhất là băng và tài liệu gốc có nguy cơ xuống cấp. Học viện cần tiếp tục số hóa, chuẩn hóa thông tin, sao lưu an toàn và phát triển cách khai thác phù hợp cho nghiên cứu, đào tạo và giới thiệu di sản.
Cùng với đó là hoàn thiện các hệ thống quản lý hiện có và bồi dưỡng đội ngũ. Mỗi giải pháp mới cần được lựa chọn theo nhu cầu cụ thể, thử nghiệm ở học phần hoặc hoạt động phù hợp rồi đánh giá trước khi mở rộng. Tiêu chí đầu tư của chúng tôi là giảng viên sử dụng hiệu quả, người học được hỗ trợ thiết thực và Học viện có khả năng duy trì lâu dài.
* Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Từ quản lý đào tạo đến thực hành âm nhạc trên nền tảng số
Theo PGS-TS Nguyễn Huy Phương, từ khi thành lập năm 2013, Khoa Jazz đã sử dụng nền tảng đám mây để lưu trữ, chia sẻ bảng điểm và hồ sơ chuyên môn, phục vụ đối chiếu với Phòng Đào tạo.
Trong giảng dạy, giảng viên của 5 chuyên ngành piano jazz, guitar jazz, bass jazz, trống jazz và saxophone jazz xây dựng, khai thác bản nhạc, tài liệu số và nhạc đệm số để hỗ trợ luyện tập, hòa tấu, cảm thụ tiết tấu và ứng tác.
Ở các môn kiến thức âm nhạc, giáo trình điện tử và phần mềm chuyên dụng đã được đưa vào giảng dạy lý thuyết, ký xướng âm và luyện nghe, giúp kết hợp bản nhạc với ví dụ âm thanh và bài tập thực hành.