Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi phương thức sáng tạo, dàn dựng, biểu diễn và tiếp cận công chúng. Trước yêu cầu đó, đào tạo nhân lực nghệ thuật biểu diễn không thể chỉ dừng ở việc trang bị kỹ năng chuyên môn truyền thống, mà cần mở rộng năng lực công nghệ, tư duy liên ngành và khả năng đồng sáng tạo.
Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi phương thức sáng tạo, dàn dựng, biểu diễn và tiếp cận công chúng. Trước yêu cầu đó, đào tạo nhân lực nghệ thuật biểu diễn không thể chỉ dừng ở việc trang bị kỹ năng chuyên môn truyền thống, mà cần mở rộng năng lực công nghệ, tư duy liên ngành và khả năng đồng sáng tạo.
Đổi mới đào tạo vì thế trở thành điều kiện quan trọng để nghệ sĩ làm chủ phương tiện hiện đại, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc nghệ thuật dân tộc.
Từ yêu cầu thực tiễn đến đổi mới tư duy đào tạo
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, công nghệ không còn chỉ là phương tiện hỗ trợ trình diễn mà đã tham gia ngày càng sâu vào toàn bộ quá trình sản xuất tác phẩm nghệ thuật. Công nghệ trình chiếu, ánh sáng lập trình, sân khấu tương tác, thực tế ảo... mở ra những khả năng biểu đạt mới, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ nghệ sĩ, đạo diễn, nhà thiết kế và nhân lực kỹ thuật. Đây không chỉ là câu chuyện của giáo dục nghệ thuật nói chung, mà còn là vấn đề trực tiếp đối với các cơ sở đào tạo nghệ thuật biểu diễn.
Những vấn đề này được phản ánh rõ tại tọa đàm "Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn", do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức vừa diễn ra tại Hà Nội.
Từ thực tiễn của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn, nhấn mạnh: Công nghệ phải được tính đến ngay từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, thay vì đợi tác phẩm hoàn thiện rồi mới tìm hình ảnh đưa vào. Điều này đồng nghĩa với việc đội ngũ sáng tạo và nhân lực kỹ thuật cần tham gia vào quá trình phát triển tác phẩm từ sớm, cùng trao đổi về khả năng thực hiện, thử nghiệm giải pháp và điều chỉnh phương án dàn dựng.

Công nghệ 3D Mapping thăng hoa cùng vở xiếc "Sơn thần thuỷ quái". Ảnh: Khánh Hoà/TTXVN
Đối với đào tạo, yêu cầu ấy đặt ra một vấn đề căn bản: Không thể tiếp tục tổ chức quá trình học tập theo những chuyên ngành tách biệt hoàn toàn, để người học chỉ gặp nhau khi bước vào môi trường làm việc thực tế. Nghệ sĩ, đạo diễn, người thiết kế mỹ thuật, chuyên gia âm thanh, ánh sáng và công nghệ cần được rèn luyện khả năng phối hợp ngay trong quá trình học tập. Đổi mới đào tạo vì vậy không đơn thuần là bổ sung một số môn học về phần mềm hay thiết bị hiện đại. Quan trọng hơn là thay đổi tư duy đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức đơn ngành sang phát triển năng lực sáng tạo trong môi trường liên ngành, nơi công nghệ trở thành một thành tố của quá trình hình thành tác phẩm.
Thực tiễn ứng dụng công nghệ tại Liên đoàn Xiếc Việt Nam cho thấy rõ những yêu cầu mới đối với người biểu diễn. Trong các chương trình "Sơn thần thủy quái" và "Kỳ Yến - Bữa tiệc diệu kỳ", công nghệ mở rộng không gian hình ảnh, hỗ trợ xây dựng bối cảnh và tăng khả năng biểu đạt cảm xúc. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng khiến nghệ sĩ phải thích nghi với điều kiện ánh sáng, tầm nhìn và phương thức phối hợp khác trước.
Đối với nghệ thuật xiếc, nền tảng thể lực và kỹ thuật vẫn là yếu tố quyết định. Với sân khấu kịch, múa, âm nhạc hay múa rối, yêu cầu thích ứng sẽ có những đặc thù khác nhau. Bởi vậy, không thể áp dụng một mô hình công nghệ chung cho tất cả các loại hình, càng không thể lấy mức độ hiện đại của thiết bị làm thước đo duy nhất cho chất lượng đào tạo. Vấn đề đổi mới giáo dục nghệ thuật được đặt trong mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận công nghệ, phát triển năng lực sáng tạo và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng là định hướng quan trọng đối với đào tạo nghệ thuật biểu diễn: công nghệ cần hỗ trợ người học phát triển tư duy và năng lực sáng tạo, không làm lu mờ những giá trị cốt lõi của nghệ thuật.
Một chương trình đào tạo hiệu quả cần giúp nghệ sĩ hiểu công nghệ có thể làm được gì, giới hạn ở đâu và khi nào nên sử dụng. Người học phải có khả năng lựa chọn phương tiện phù hợp với ý tưởng, thay vì phụ thuộc vào hiệu ứng có sẵn. Đó là năng lực làm chủ công nghệ, khác với việc chỉ biết sử dụng thiết bị.

Tiết mục biểu diễn của sinh viên Học viện Múa Việt Nam. Ảnh: Học viện Múa Việt Nam
Một trong những đề xuất đáng chú ý tại tọa đàm là ý kiến của TS, NSND Trần Ly Ly, Bí thư Đảng ủy Học viện Múa Việt Nam, về việc hình thành các nhóm đồng sáng tạo, tạo không gian thử nghiệm để đạo diễn, công nghệ, âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật và âm nhạc cùng phát triển dự án ngay từ nhà trường. Theo hướng tiếp cận này, sinh viên không chỉ học kiến thức chuyên ngành mà còn có cơ hội tham gia quá trình xây dựng một sản phẩm biểu diễn hoàn chỉnh. Người học nghệ thuật có thể trực tiếp trao đổi với người làm công nghệ về ý tưởng, yêu cầu thẩm mỹ và điều kiện thể hiện; trong khi sinh viên kỹ thuật được tiếp cận ngôn ngữ nghệ thuật, hiểu rõ hơn những giới hạn và yêu cầu đặc thù của sân khấu.
Các chương trình biểu diễn có ứng dụng công nghệ cũng có thể trở thành môi trường thực hành quan trọng. Sinh viên được tham gia vào những công việc phù hợp với trình độ, từ nghiên cứu tư liệu, thiết kế hình ảnh, xây dựng kịch bản trình diễn đến hỗ trợ vận hành thiết bị và truyền thông sản phẩm. Qua đó, người học không chỉ tích lũy kỹ năng mà còn hiểu được quy trình tổ chức sản xuất nghệ thuật trong điều kiện thực tế.
Tại tọa đàm, ông Lê Anh Dũng, Giám đốc VTC Cloud hạ tầng (Tổng Công ty VTC), cũng đề xuất tăng cường liên kết giữa nhà trường, đơn vị biểu diễn và doanh nghiệp để người học có cơ hội thực hành âm thanh, ánh sáng, đồ họa và công nghệ trình diễn ngay từ khi còn đi học.
Sự phối hợp này cần được tổ chức thành chương trình hợp tác có mục tiêu, kế hoạch và trách nhiệm cụ thể, thay vì chỉ dừng ở những hoạt động giao lưu ngắn hạn. Khi người học được tiếp cận môi trường nghề nghiệp từ sớm, các cơ sở đào tạo cũng có điều kiện cập nhật chương trình, nhận diện những kỹ năng còn thiếu và điều chỉnh nội dung giảng dạy phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn.

Quang cảnh cuộc toạ đàm "Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn"
Đầu tư cho con người là nền tảng của chuyển đổi số
Một thách thức khác của đào tạo nhân lực nghệ thuật biểu diễn là làm thế nào để ứng dụng công nghệ mà không làm mất đi đặc trưng của từng loại hình nghệ thuật.
NSND Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam, cho rằng với múa rối, những nhân vật nhỏ và chuyển động tinh tế tạo nên sức hấp dẫn riêng. Nếu hình ảnh trình chiếu quá lớn, quá mạnh, công nghệ có thể lấn át con rối, khiến khán giả không còn tập trung vào nghệ thuật điều khiển rối.
Đây là bài học quan trọng đối với công tác đào tạo. Người làm nghệ thuật cần được trang bị nền tảng hiểu biết sâu sắc về loại hình mà mình theo đuổi, từ ngôn ngữ biểu đạt, đặc trưng thẩm mỹ đến lịch sử và giá trị văn hóa. Chỉ trên cơ sở ấy, công nghệ mới được lựa chọn và sử dụng đúng mục đích.
Đối với sân khấu kịch, việc ứng dụng hình ảnh AI để mở rộng bối cảnh, tái hiện không gian lịch sử có thể hỗ trợ dàn dựng. Tuy nhiên, hình ảnh phải được kiểm chứng về tính chính xác, phù hợp với nội dung và nằm trong tổng thể phương án nghệ thuật.
Dù công nghệ mở ra nhiều cơ hội, việc đào tạo nhân lực nghệ thuật biểu diễn vẫn đối diện những khó khăn về cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và đội ngũ giảng dạy. Các cơ sở đào tạo không thể đổi mới hiệu quả nếu thiếu thiết bị thực hành, không gian thử nghiệm và cơ hội tiếp cận những công nghệ đang được sử dụng trong môi trường biểu diễn chuyên nghiệp.

Sân khấu chương trình "Anh trai vượt ngàn chông gai" với tuyến zipline kéo dài hơn 200m chạy xuyên qua không gian khán đài. Ảnh minh hoạ: NSXCC
Tại tọa đàm, TS Trần Thị Minh Thu, Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam, nhận diện ba điểm nghẽn của ứng dụng công nghệ trong nghệ thuật biểu diễn là nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính. Theo bà, nghệ sĩ cần hiểu công nghệ, còn kỹ sư phải hiểu tư duy thẩm mỹ và ngôn ngữ nghệ thuật. Hai lực lượng cần được bồi dưỡng kiến thức cho nhau và có môi trường cùng thử nghiệm.
Do đó, đầu tư cho đào tạo không nên chỉ tập trung vào mua sắm thiết bị. Cần đồng thời phát triển đội ngũ giảng viên có khả năng kết nối nghệ thuật với công nghệ; tổ chức các chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức; xây dựng mạng lưới chuyên gia và tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị biểu diễn.
Về phía quản lý, cần có chính sách hỗ trợ cơ sở đào tạo và đơn vị biểu diễn đầu tư hạ tầng dùng chung, xây dựng chương trình thực hành và phát triển các dự án phối hợp với doanh nghiệp. Những mô hình hiệu quả cần được đánh giá, tổng kết và nhân rộng trên cơ sở phù hợp với điều kiện của từng loại hình nghệ thuật.
Đổi mới đào tạo nhân lực nghệ thuật biểu diễn trong kỷ nguyên số, suy cho cùng, không phải là biến nghệ sĩ thành kỹ thuật viên hay để công nghệ quyết định cách làm nghệ thuật. Mục tiêu là hình thành những thế hệ nghệ sĩ có nền tảng chuyên môn vững vàng, tư duy sáng tạo độc lập, khả năng phối hợp liên ngành và năng lực làm chủ phương tiện hiện đại.
Khi nhà trường gắn với nhà hát, doanh nghiệp công nghệ đồng hành với nghệ sĩ, dữ liệu văn hóa trở thành nguồn lực sáng tạo và cơ chế đầu tư được hoàn thiện, công nghệ số sẽ không chỉ tạo ra những sân khấu mới mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội tiếp cận công chúng và phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trên nền tảng bản sắc dân tộc.
Tổng kết tọa đàm, nhà báo Hoàng Hà - Tổng Biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật - đánh giá cao các ý kiến phát biểu chất lượng, giàu thông tin thực tiễn. Ông nhấn mạnh những câu chuyện từ chính người làm nghề đã phản ánh sinh động quá trình tìm tòi, thử nghiệm, vượt khó và khát vọng cống hiến phía sau mỗi chương trình, vở diễn.
Từ câu chuyện của nghệ thuật xiếc, múa rối đến sân khấu kịch, có thể thấy ứng dụng công nghệ số không phải cuộc chạy đua về thiết bị hay hiệu ứng trình chiếu. Đó là quá trình tìm kiếm sự hài hòa giữa phương tiện hiện đại với ngôn ngữ nghệ thuật, giữa đổi mới sáng tạo với bảo tồn bản sắc, giữa yêu cầu chuyên môn với điều kiện thực tế của từng đơn vị. Nghệ sĩ thích ứng với công nghệ trước hết bằng việc chủ động học hỏi, rèn luyện kỹ năng mới và tham gia sâu hơn vào quá trình đồng sáng tạo. Nhưng sự thích ứng ấy chỉ có thể trở thành năng lực bền vững khi được hỗ trợ bởi hạ tầng phù hợp, dữ liệu văn hóa được số hóa, đội ngũ kỹ thuật đủ năng lực, cơ chế đãi ngộ thỏa đáng và quan hệ hợp tác lâu dài giữa Nhà nước, nhà hát, nhà trường và doanh nghiệp.
Khi công nghệ được đặt đúng vị trí, con người vẫn giữ vai trò trung tâm, còn bản sắc văn hóa trở thành nền tảng cho sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam sẽ có thêm điều kiện đổi mới phương thức thể hiện, mở rộng công chúng và nâng cao sức cạnh tranh trong đời sống văn hóa đương đại.