Một trong những yêu cầu quan trọng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển là chuyển hóa nguồn tài nguyên văn hóa thành những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, đồng thời hình thành cơ chế để tài sản sáng tạo được ghi nhận, khai thác và tham gia thị trường.
Một trong những yêu cầu quan trọng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển là chuyển hóa nguồn tài nguyên văn hóa thành những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, đồng thời hình thành cơ chế để tài sản sáng tạo được ghi nhận, khai thác và tham gia thị trường.
Từ nền tảng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, việc phát triển các ứng dụng công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thúc đẩy thương mại hóa đang mở ra hướng đi mới nhằm khơi thông nguồn lực đầu tư cho công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Chuyển hóa chất liệu văn hóa thành sản phẩm
Một nền công nghiệp văn hóa phát triển không chỉ dựa vào sự phong phú của tài nguyên mà còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức sản xuất, đổi mới phương thức sáng tạo và tiếp cận thị trường. Những giá trị văn hóa vốn được lưu giữ, giới thiệu qua các hình thức truyền thống cần có thêm phương thức thể hiện phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và thói quen tiếp nhận của công chúng trong môi trường số.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Mạnh Tùng (nhà sáng lập, Tổng Giám đốc YooTek Holdings) cho rằng, đích đến của phát triển công nghiệp văn hóa là kết hợp được công nghệ, con người và những chất liệu văn hóa để xây dựng các sản phẩm có khả năng kinh doanh, thương mại hóa. Trong quá trình đó, dữ liệu văn hóa là nguồn đầu vào quan trọng, nhưng việc phát triển các nền tảng, công cụ và ứng dụng khai thác dữ liệu mới là điều kiện để tạo ra giá trị.

Công nghệ AI được ứng dụng trong không gian phòng chiếu và sân khấu trong chương trình “Thời khắc” của Nhà hát Kịch Hà Nội. Ảnh: Khánh Hòa
Một trong những hướng đi được doanh nghiệp quan tâm là ứng dụng công nghệ trong giáo dục lịch sử, văn hóa và di sản. Trước đây, việc tiếp cận nhiều nội dung lịch sử thường gặp khó khăn bởi tính trừu tượng, nhất là khi người học phải hình dung về nhân vật, sự kiện hay bối cảnh của những thời kỳ đã qua. Với công nghệ trực quan hóa, những nội dung này có thể được thể hiện sinh động bằng hình ảnh, mô hình ba chiều và các hình thức tương tác.
Ở cấp độ cao hơn, người học còn có thể nhập vai vào những nhân vật hoặc bối cảnh lịch sử để trải nghiệm, khám phá các câu chuyện. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần đổi mới phương thức giáo dục mà còn cho thấy khả năng hình thành những sản phẩm văn hóa số phục vụ nhiều nhóm công chúng khác nhau.
Từ một chất liệu lịch sử, những chủ thể sáng tạo có thể phát triển học liệu số, trò chơi điện tử, ứng dụng tương tác hoặc các không gian trải nghiệm văn hóa. Mỗi loại hình có phương thức tổ chức sản xuất, phân phối và khai thác riêng, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, đồng thời tạo thêm dư địa cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa.
Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa còn phụ thuộc đáng kể vào mức độ làm chủ công nghệ. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn phải sử dụng các nền tảng, công cụ và giải pháp công nghệ từ nước ngoài. Sự phụ thuộc này có thể làm gia tăng chi phí, hạn chế khả năng chủ động điều chỉnh sản phẩm và khai thác những đặc thù của thị trường trong nước.
Vì vậy, cùng với phát triển nguồn dữ liệu, việc từng bước làm chủ công nghệ lõi, xây dựng các công cụ sáng tạo và nền tảng ứng dụng do doanh nghiệp Việt Nam phát triển có ý nghĩa quan trọng. Khi chủ động được công nghệ, doanh nghiệp có thêm điều kiện giảm chi phí, phát triển những sản phẩm phù hợp với chất liệu văn hóa dân tộc và mở rộng khả năng cạnh tranh.
Định hướng này cũng phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và giải trí, là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hóa. Nghị quyết khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, gắn kết văn hóa với du lịch, thương mại và công nghệ để hình thành chuỗi giá trị.
Nhìn từ những yêu cầu này, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia có thể trở thành nguồn lực hỗ trợ các hoạt động sáng tạo và phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu phải gắn với năng lực công nghệ, khả năng tổ chức sản xuất và nhu cầu thực tế của thị trường. Đây là những điều kiện để hoạt động sáng tạo không chỉ dừng ở các sản phẩm thử nghiệm mà có thể phát triển thành những mô hình kinh doanh lâu dài.

Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Ảnh: Hữu Duyên
Tạo lập thị trường tài sản văn hóa số
Bên cạnh năng lực sáng tạo và công nghệ, một trong những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp công nghiệp văn hóa là khả năng xác lập, định giá và khai thác tài sản hình thành từ hoạt động sáng tạo.
Khác với những ngành sản xuất chủ yếu dựa vào tài sản hữu hình, giá trị của nhiều sản phẩm văn hóa nằm ở nội dung sáng tạo, quyền tác giả, quyền khai thác thương mại và các tài sản trí tuệ khác. Những sản phẩm này có thể đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian nghiên cứu và công sức sáng tạo đáng kể, nhưng việc xác định giá trị kinh tế, nhất là khả năng sử dụng tài sản để huy động nguồn lực đầu tư, vẫn gặp nhiều khó khăn.
Trong thực tế, không ít sản phẩm văn hóa lâu nay được phổ biến miễn phí, hoặc được khai thác theo những phương thức chưa tạo ra nguồn thu tương xứng với giá trị đầu tư. Trong khi đó, nhu cầu thưởng thức và mức độ lựa chọn của công chúng ngày càng cao, đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng, tính hấp dẫn và những phương thức cung cấp dịch vụ phù hợp.
Từ thực tiễn này, chuyên gia đề xuất cần thúc đẩy hình thành thị trường tài sản văn hóa số, tạo điều kiện để những sản phẩm sáng tạo được công nhận, định giá và khai thác như những tài sản có giá trị kinh tế.
Đáng chú ý, một hướng được đề cập là nghiên cứu khả năng sử dụng tài sản văn hóa đã được xác lập quyền và định giá làm tài sản bảo đảm để tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Theo cách tiếp cận này, những sản phẩm được tạo nên từ trí tuệ, công sức và nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp cần có cơ chế phù hợp để phát huy giá trị tài sản, tương tự khả năng huy động vốn từ các loại tài sản khác.
Dù vậy, đây vẫn là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, nhất là những yêu cầu về xác lập quyền sở hữu, phương pháp định giá, khả năng chuyển nhượng và quản trị rủi ro. Không phải mọi dữ liệu văn hóa hay sản phẩm số đều mặc nhiên có thể trở thành tài sản bảo đảm. Điều quan trọng là phải hình thành những cơ chế minh bạch, có khả năng bảo vệ quyền lợi của các chủ thể và tạo niềm tin cho hoạt động đầu tư.

Công nghệ trình chiếu 3D mapping trên vòm trần tòa nhà Đại học Đông Dương (Hà Nội), góp phần làm sống động những giá trị di sản kiến trúc. Ảnh: Khánh Hòa
Ở phương diện chính sách, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ: "Xác lập quyền sở hữu, kinh doanh dữ liệu và phân phối giá trị tạo ra từ dữ liệu". Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu và các sàn giao dịch dữ liệu.
Đối với lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục xác định nhiệm vụ "xây dựng và vận hành sàn giao dịch sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, đặc biệt dưới dạng tài sản số". Đây là những định hướng quan trọng để thúc đẩy quá trình xác lập giá trị kinh tế của sản phẩm sáng tạo, phát triển các phương thức giao dịch và khai thác tài sản trí tuệ trong môi trường số.
Cụ thể hơn, Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số quy định Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia có thể cung cấp dữ liệu mở, dữ liệu mở có điều kiện, dữ liệu khai thác có thu phí và dữ liệu khai thác thương mại theo quy định của pháp luật. Việc đóng góp dữ liệu vào kho không làm thay đổi quyền của chủ sở hữu dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan.
Những quy định này đặt nền tảng cho việc xây dựng các cơ chế tiếp cận, sử dụng và khai thác dữ liệu phù hợp với từng nhóm đối tượng. Có những dữ liệu cần được phổ biến rộng rãi để phục vụ giáo dục, nghiên cứu và lợi ích cộng đồng. Bên cạnh đó, những dữ liệu được phép khai thác thương mại cần có cơ chế xác định quyền sử dụng, điều kiện cung cấp và phân phối lợi ích cho các chủ thể liên quan.
Sự phân định này cũng có ý nghĩa đối với việc thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển các sản phẩm, dịch vụ từ nguồn tài nguyên văn hóa. Khi quyền khai thác được xác lập rõ ràng, doanh nghiệp có cơ sở pháp lý để đầu tư, phát triển sản phẩm; người sáng tạo và các chủ thể sở hữu quyền có điều kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp từ tài sản trí tuệ của mình.
Mặt khác, theo chuyên gia, cùng với cơ chế khai thác, thương mại hóa tài sản văn hóa số, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về bản quyền, quyền lợi của tác giả và trách nhiệm của những chủ thể sử dụng dữ liệu. Sự phát triển của thị trường phải gắn với khả năng xác thực quyền sở hữu, bảo vệ lợi ích hợp pháp và tạo lập môi trường sáng tạo lành mạnh.
Đây cũng là điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực đầu tư, thúc đẩy chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, tạo động lực phát triển bền vững cho công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu khả năng sử dụng tài sản văn hóa đã được xác lập quyền và định giá làm tài sản bảo đảm để tiếp cận nguồn vốn tín dụng.