thethaovanhoa.vn

Xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia (kỳ 1): Kiến tạo nền tảng dữ liệu cho công nghiệp văn hóa

Công Bắc 22/10/2026 06:19 GMT+7

Trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa, nguồn tài nguyên văn hóa phong phú chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi được tổ chức, chuẩn hóa và kết nối để phục vụ nghiên cứu, sáng tạo.

Trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa, nguồn tài nguyên văn hóa phong phú chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi được tổ chức, chuẩn hóa và kết nối để phục vụ nghiên cứu, sáng tạo. 

Xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia vì thế là bước đi quan trọng nhằm hình thành hạ tầng dữ liệu dùng chung, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp văn hóa phát triển trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa Việt Nam.

Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia là một trong những sáng kiến mang tính nền tảng đang được Bộ VH,TT&DL đẩy mạnh triển khai nhằm tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam. Với trọng tâm xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia hướng tới kết nối, chuẩn hóa và khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên văn hóa, tạo cơ sở thúc đẩy nghiên cứu, sáng tạo và phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa trong môi trường số.

Dữ liệu chuẩn - nền tảng của sáng tạo

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, trải dài qua hàng nghìn năm lịch sử, với hệ thống di sản, tư liệu, tác phẩm nghệ thuật, tri thức truyền thống và những giá trị văn hóa đặc sắc.

Tuy nhiên, phần lớn những tài nguyên này đang được lưu giữ, quản lý và khai thác tại nhiều cơ quan, địa phương, thiết chế văn hóa khác nhau. Sự phân tán về nguồn dữ liệu, cùng những khác biệt trong phương thức số hóa, lưu trữ và quản lý, đặt ra không ít khó khăn trong việc kết nối, khai thác phục vụ các hoạt động sáng tạo.

Xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia (kỳ 1): Kiến tạo nền tảng dữ liệu cho công nghiệp văn hóa - Ảnh 1.

Màn hình tương tác thông minh tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Phan Phương

Trong bối cảnh đó, xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không chỉ nhằm tập hợp những nguồn tư liệu đã có, mà còn hướng tới tạo lập một hệ thống dữ liệu thống nhất về tiêu chuẩn, có khả năng kết nối và sử dụng rộng rãi. Đây là điều kiện quan trọng để các ngành công nghiệp văn hóa tiếp cận nguồn chất liệu đầu vào đáng tin cậy, đồng thời mở rộng khả năng nghiên cứu, phát triển những hình thức sáng tạo mới.

Định hướng này có cơ sở từ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu "làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu".

Đối với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu đưa dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất đặt ra một cách tiếp cận mới. Những nguồn tài nguyên văn hóa sau khi được số hóa phải tiếp tục được xử lý, tổ chức và kết nối để phục vụ các hoạt động nghiên cứu, sản xuất nội dung, giáo dục và sáng tạo. Giá trị của dữ liệu vì thế không chỉ nằm ở khả năng lưu giữ thông tin mà còn ở chất lượng và mức độ sẵn sàng phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau.

Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định nhiệm vụ "Xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hoá quốc gia, nền tảng số dùng chung bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia", đồng thời nhấn mạnh việc chuẩn hóa, số hóa di sản văn hóa, tác phẩm văn học, nghệ thuật và quản trị dữ liệu gắn với bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.

Chia sẻ với Thể thao và Văn hóa, ông Nguyễn Mạnh Tùng (nhà sáng lập, Tổng Giám đốc YooTek Holdings, đơn vị tham gia nghiên cứu các giải pháp công nghệ phục vụ khai thác dữ liệu văn hóa số) cho rằng, dữ liệu chính là gốc rễ của công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng khi xây dựng kho dữ liệu không đơn thuần là tập hợp những nguồn dữ liệu từ nhiều nơi, mà phải làm sạch, thẩm định và chuẩn hóa để tạo lập nguồn thông tin có chất lượng.

Xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia (kỳ 1): Kiến tạo nền tảng dữ liệu cho công nghiệp văn hóa - Ảnh 2.

Công nghệ trình chiếu 3D mapping kết hợp nghệ thuật dân gian tại Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò 2026

Yêu cầu này đặc biệt có ý nghĩa đối với những dữ liệu liên quan đến lịch sử, di sản và bản sắc văn hóa dân tộc. Chẳng hạn, khi xây dựng một bộ phim lấy bối cảnh lịch sử, người sáng tạo phải tham khảo rất nhiều tư liệu về nhân vật, sự kiện, trang phục, kiến trúc và đời sống của từng thời kỳ. Nếu thiếu nguồn dữ liệu được thẩm định, việc lựa chọn, diễn giải những yếu tố lịch sử có thể dẫn đến sai lệch, thậm chí gây tranh luận khi sản phẩm được công bố.

Tương tự, đối với lĩnh vực thiết kế sáng tạo, những hoa văn, họa tiết hoặc hình tượng nghệ thuật thuộc các triều đại khác nhau là nguồn chất liệu có giá trị. Tuy nhiên, việc khai thác những yếu tố này đòi hỏi hiểu biết chính xác về nguồn gốc, niên đại, đặc trưng tạo hình và bối cảnh văn hóa. Một hệ thống dữ liệu đã được chuyên gia xác thực sẽ giúp người thiết kế có cơ sở tham chiếu đáng tin cậy, thay vì phải tìm kiếm thông tin rải rác từ những nguồn chưa được kiểm chứng.

Từ những ví dụ đó, có thể thấy việc chuẩn hóa dữ liệu văn hóa không chỉ là yêu cầu kỹ thuật. Đó còn là quá trình thẩm định tri thức, trong đó cần có sự tham gia của các nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hóa, chuyên gia chuyên ngành, viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước. Chất lượng của kho dữ liệu phụ thuộc trước hết vào độ chính xác, tính đầy đủ và khả năng xác định nguồn gốc của từng loại thông tin.

Kết nối nguồn lực, hình thành hạ tầng dùng chung

Một trong những thách thức lớn khi xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia là phạm vi và tính đa dạng của dữ liệu. Không chỉ bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh hay video, dữ liệu văn hóa còn tồn tại dưới nhiều dạng thức chuyên biệt như mô hình ba chiều, dữ liệu không gian, kiến trúc và các nội dung đa phương tiện. Mỗi loại dữ liệu có những đặc thù riêng, đòi hỏi giải pháp lưu trữ, quản trị và xử lý phù hợp.

Bên cạnh đó, nhiều cơ quan, đơn vị và địa phương đã xây dựng những kho dữ liệu chuyên ngành. Vì thế, việc phát triển một hệ thống dùng chung phải đồng thời giải quyết 2 nhiệm vụ: Kết nối, tận dụng hạ tầng đã có và bảo đảm khả năng tiếp nhận những nguồn dữ liệu mới trong tương lai. Nếu thiếu kiến trúc tổng thể thống nhất, nguy cơ đầu tư trùng lặp, hình thành những hệ thống riêng lẻ, khó liên thông sẽ tiếp tục tồn tại.

Xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia (kỳ 1): Kiến tạo nền tảng dữ liệu cho công nghiệp văn hóa - Ảnh 3.

Trình chiếu video mapping tác phẩm “Thăng đường nhập thất” tại giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ảnh: Khánh Hòa

Mô hình kết hợp giữa tập trung và phân tán cũng là hướng kiến trúc được các doanh nghiệp công nghệ quan tâm trong quá trình tham gia nghiên cứu giải pháp. Theo chuyên gia, việc kết hợp mô hình tập trung và phân tán cho phép liên kết những kho dữ liệu đã tồn tại, đồng thời xây dựng một đầu mối chung để tổ chức, chuẩn hóa và quản trị dữ liệu. Cách tiếp cận này giúp tận dụng các nguồn lực đã được đầu tư, hạn chế lãng phí và bảo đảm khả năng mở rộng hệ thống.

Cùng với kiến trúc công nghệ, điều kiện quan trọng là xây dựng bộ tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất từ Trung ương đến địa phương, xác lập các quy trình thẩm định, làm sạch, cập nhật và phân quyền quản trị. Hệ thống chỉ có thể phát huy hiệu quả khi những nguồn dữ liệu từ nhiều lĩnh vực và địa phương khác nhau có khả năng kết nối, đồng bộ mà vẫn bảo đảm tính chính xác, nguồn gốc và bối cảnh văn hóa.

Đặc biệt, sự hình thành kho dữ liệu đòi hỏi mô hình phối hợp giữa nhiều chủ thể. Nhà nước giữ vai trò xây dựng thể chế, quản lý và tổ chức vận hành; các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia tham gia thẩm định, chuẩn hóa dữ liệu; doanh nghiệp công nghệ đóng góp giải pháp kỹ thuật và năng lực phát triển hệ thống. Những thiết chế văn hóa, tổ chức lưu giữ tư liệu tại địa phương cũng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp, cập nhật và hoàn thiện nguồn dữ liệu.

Yêu cầu này gắn trực tiếp với Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Đối với sáng kiến Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, Bộ VH,TT&DL đặt mục tiêu trong năm 2026 hướng tới vận hành phiên bản đầu tiên, mở cổng kết nối thử nghiệm để doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo có thể tiếp cận nguồn dữ liệu.

Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không thay thế các cơ sở dữ liệu hiện có

Theo Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 của Chính phủ về hạ tầng văn hóa số, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia hoạt động theo mô hình liên hợp, kết hợp giữa tập trung và phân tán.

Kho dữ liệu có chức năng lưu trữ, tích hợp, chuẩn hóa, quản trị, phân phối và khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, nền tảng số và những nguồn dữ liệu hợp pháp khác; không thay thế các cơ sở dữ liệu hiện có, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

(Còn tiếp)

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN