thethaovanhoa.vn

Nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20/10: Những bông hoa trên tuyến đầu của Thể thao Việt Nam

Long Khang 20/10/2026 05:45 GMT+7

Họ là những bông hoa trên tuyến đầu chinh phục đấu trường đỉnh cao, là những người tiên phong của hành trình mang vinh quang về cho đất nước, là nguồn cảm hứng hùng hồn mà sâu lắng chảy dọc chiều dài lịch sử thể thao nước nhà.

Họ là những bông hoa trên tuyến đầu chinh phục đấu trường đỉnh cao, là những người tiên phong của hành trình mang vinh quang về cho đất nước, là nguồn cảm hứng hùng hồn mà sâu lắng chảy dọc chiều dài lịch sử thể thao nước nhà.

Không chỉ là một nữa nguồn sức mạnh, các nữ vận động viên (VĐV) chính là trụ cột của chiến lược mang tầm nhìn thời đại trong kỷ nguyên mới của thể thao Việt Nam (TTVN). 

Đẹp hơn ở những mốc son lịch sử

Trong hành trình hơn nửa thế kỷ trưởng thành và hội nhập quốc tế của TTVN, hình ảnh các nữ VĐV luôn xuất hiện ở những vị trí tiên phong, kiên cường và rực rỡ nhất. Không chỉ trao gửi niềm cảm hứng về bản lĩnh và nghị lực, phụ nữ còn chính là lực lượng nòng cốt gánh vác chỉ tiêu thành tích, bảo vệ vị thế và mang về những cột mốc lịch sử mang tính bước ngoặt cho nền thể thao nước nhà.

Ngay ở thời điểm TTVN bắt đầu hội nhập trở lại với đấu trường khu vực tại SEA Games 15 (năm 1989), xạ thủ Ngô Ngân Hà chính là người đầu tiên giành tấm HCV quý giá cho đoàn thể thao nước nhà. Bước ra đấu trường đỉnh cao nhất thế giới, Thế vận hội Olympic, người đưa tên tuổi Việt Nam lần đầu tiên lên bảng vàng huy chương cũng là một nữ tuyển thủ: Võ sĩ taekwondo Trần Hiếu Ngân với tấm HCB lịch sử tại Olympic Sydney 2000.

Trên đỉnh cao của thể thao thế giới, không thể không nhắc đến 7 danh hiệu vô địch thế giới của huyền thoại wushu Nguyễn Thúy Hiền, người Việt Nam vô địch thế giới ở một môn thể thao cấp độ ASIAD, khi ấy cô chỉ mới 14 tuổi (năm 1993). Ở môn cầu mây, đội tuyển nữ 4 người hay đôi nữ cũng chính là nhà vô địch thế giới đầu tiên trong môn chơi này.

Không dừng lại ở cá nhân, bóng đá nữ Việt Nam đã làm nên kỳ tích khi dự World Cup 2023. Đội nữ bóng chuyền Việt Nam vô địch châu Á tại 2 kỳ AVC Cup. Đội nữ bóng ném bãi biển 3 lần vô địch châu Á…

Những trang sử vàng ấy chứng minh rằng: Trong bất kỳ bước ngoặt vươn tầm nào của thể thao dân tộc, phái nữ luôn là những người tiên phong vượt khó.

Nữ vận động viên và thể thao Việt Nam: Những bông hoa trên tuyến đầu - Ảnh 1.

Đội tuyển cầu mây nữ 4 người Việt Nam nhận HCV tại Asiad 20. Ảnh: Bùi Lượng/Cục TDTT

"Bờ vai" gánh vác thành tích tại ASIAD và SEA Games

Nếu xét ở tỷ trọng đóng góp huy chương, phái yếu lại chính là "bờ vai" vững chắc nhất duy trì vị thế cho TTVN trên các bảng tổng sắp. Tại các kỳ SEA Games, tỷ lệ nữ VĐV giành HCV luôn ổn định ở mức hơn 40% tổng thành tích toàn đoàn.

Đặc biệt, ở đấu trường châu lục Asiad, nơi đòi hỏi trình độ tiệm cận thế giới, vai trò chủ lực của nữ VĐV càng thể hiện rõ nét. Tại Asiad 20 tại Nhật Bản, vai trò này đạt đến mức tuyệt đối khi toàn bộ 3 HCV của đoàn TTVN giành được đều đến từ các nữ VĐV karate (kata đồng đội nữ) và cầu mây (tái lập cú đúp HCV). Cùng với đó là tấm HCB vô cùng quả cảm của võ sĩ Nguyễn Thị Tâm ở môn boxing sau hành trình nỗ lực vượt qua chấn thương.

Bên cạnh đó, TTVN cũng sở hữu những "tượng đài" nữ với khả năng thống trị bền bỉ vượt thời gian. Chân chạy Nguyễn Thị Oanh đã đi vào lịch sử khi sở hữu tới 15 HCV qua 5 kỳ SEA Games liên tiếp (từ SEA Games 29 đến SEA Games 33) ở cả 4 nội dung cự ly trung bình và dài.

"Kình ngư" Nguyễn Thị Ánh Viên là người duy nhất từng nhận giải thưởng "VĐV của SEA Games" khi một mình giành 8 HCV và phá 8 kỷ lục tại SEA Games 2015. Tại SEA Games 33, nữ xạ thủ Trịnh Thu Vinh trở thành VĐV xuất sắc nhất toàn Đại hội với 4 HCV, 1 HCB và phá 3 kỷ lục; tay chèo Nguyễn Thị Hương đoạt 4 HCV (nâng tổng số lên 12 HCV qua 3 kỳ SEA Games); tổ chạy tiếp sức 4x400m nữ thống trị khu vực 6 kỳ liên tiếp kể từ năm 2015; còn đội tuyển futsal nữ đoạt HCV, giúp cầu thủ Trần Thị Thùy Trang lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu khi giành 4 HCV SEA Games liên tiếp ở cả bóng đá 11 người lẫn futsal.

Những câu chuyện đẹp ấy không chỉ dừng ở những lần bước lên bục vinh quang, mà còn theo chân những "bóng hồng thép" trên hành trình chinh phục các giới hạn sự nghiệp. Đó là cua-rơ Nguyễn Thị Thật, người Việt Nam đầu tiên khoác áo đội đua chuyên nghiệp châu Âu và cũng là cua-rơ đường trường duy nhất dự Olympic (Paris 2024); là Huỳnh Như, cầu thủ có thời gian thi đấu chính thức lâu nhất tại châu Âu của bóng đá Việt Nam; là Nguyễn Thùy Linh với gần 10 chuyến du đấu đơn độc mỗi năm để lọt Top 20 thế giới; là những "cô gái chân dài" của bóng chuyền Việt Nam phô diễn tài năng, sắc đẹp từ Thổ Nhĩ Kỳ, đến Nhật Bản, Hàn Quốc… 

Thực tế chỉ ra rằng, đặc điểm nhân trắc học và sinh lý của nữ VĐV Việt Nam đặc biệt tương thích với các nhóm môn đòi hỏi sự khéo léo, độ chính xác cao (bắn súng, bắn cung) hoặc các nhóm môn võ thuật thi đấu theo hạng cân nhỏ (karate, boxing, taekwondo, wushu) và các môn sức bền dẻo dai (cầu mây, đua thuyền). Đây đều là những nội dung có khả năng tranh chấp huy chương trực tiếp tại Asiad và Olympic rõ rệt hơn so với các môn đòi hỏi tột cùng về tầm vóc thể hình hay sức mạnh cơ bắp tuyệt đối.

Do đó, việc xây dựng chính sách đầu tư chuyên biệt, bao gồm chế độ dinh dưỡng đặc thù giới, y học thể thao chuyên sâu, tâm lý lứa tuổi và đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp sau giải nghệ, không chỉ mang ý nghĩa văn minh nhân văn, mà còn là bài toán phân bổ nguồn lực thông minh.

Mặc dù đóng góp phần lớn thành tích trọng điểm, các nữ VĐV vẫn phải đối mặt với vô vàn thiệt thòi đặc thù: Tuổi nghề ngắn, rào cản định kiến xã hội, chấn thương thể xác lẫn áp lực thiên chức gia đình, một đặc điểm không thể bỏ qua trong đời sống thể thao Việt Nam.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN