Phát triển văn hóa Việt Nam trên không gian số không chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ để bảo tồn, lan tỏa các giá trị văn hóa hay xử lý nội dung vi phạm.
Phát triển văn hóa Việt Nam trên không gian số không chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ để bảo tồn, lan tỏa các giá trị văn hóa hay xử lý nội dung vi phạm. Trước sự phát triển nhanh chóng của dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng xuyên biên giới, yêu cầu đặt ra là đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng lực làm chủ không gian văn hóa số.
Cùng với đó, việc kết hợp giữa bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa, giữa quản trị và chủ động sáng tạo, phân phối nội dung Việt Nam sẽ tạo nền tảng để xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, bền vững, góp phần khẳng định bản sắc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Từ dữ liệu đến năng lực quản trị
Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi không chỉ phương thức sáng tạo, truyền tải và tiếp nhận các giá trị văn hóa, mà còn tác động đến sự vận động của đời sống văn hóa. Những chuyển biến này đòi hỏi đổi mới phương thức quản trị, từ xử lý từng vấn đề phát sinh sang chủ động theo dõi, nhận diện sớm các biến động và hỗ trợ ra quyết định trên cơ sở dữ liệu.
Trong lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu triển khai phương thức quản trị văn hóa hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong giám sát, định hướng nội dung văn hóa trực tuyến; xây dựng, khai thác hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data), bảo vệ an ninh văn hóa trên mạng và chủ quyền văn hóa số.

Màn hình trình chiếu và tra cứu tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh: Phan Phương
Cùng với đó, Nghị quyết 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị định 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 của Chính phủ về hạ tầng văn hóa số tiếp tục cụ thể hóa các nội dung về hạ tầng văn hóa số, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa và nền tảng số dùng chung.
Từ những định hướng này, TS Nguyễn Ngọc Cương (Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia) cho rằng bài toán đặt ra không phải tạo thêm một "siêu hệ thống", mà là hình thành năng lực điều phối, phân tích, kiểm chứng và hỗ trợ ra quyết định trên các hạ tầng, dữ liệu và nền tảng đã và đang được xây dựng.
Theo đó, ông đề xuất xây dựng "Hệ điều hành văn hóa số" như một khung năng lực quản trị liên ngành dựa trên dữ liệu. Giá trị của mô hình không nằm ở tên gọi công nghệ, mà ở khả năng kết nối 3 yêu cầu: Nhìn thấy đúng những gì đang diễn ra; hiểu đúng ý nghĩa xã hội - văn hóa của tín hiệu; giúp cơ quan có thẩm quyền hành động sớm hơn, chính xác hơn, có thể giải thích và chịu trách nhiệm.
"Hệ điều hành văn hóa số" là khung năng lực quản trị tích hợp ở tầm quốc gia, vận hành trên dữ liệu liên thông, công cụ AI và Big Data, tiêu chuẩn và quy trình nghiệp vụ, tri thức chuyên gia và cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện chu trình: Quan sát - phân tích - cảnh báo - kiểm chứng - hỗ trợ quyết định - phản hồi, học hỏi" - ông giải thích.
6 bước vận hành "Hệ điều hành văn hóa số"
Về tổ chức vận hành "Hệ điều hành văn hóa số", TS Nguyễn Ngọc Cương đưa ra vòng lặp 6 bước: Kết nối, chuẩn hóa dữ liệu; quan sát, phát hiện tín hiệu; phân tích kỹ thuật và bối cảnh; xếp mức ưu tiên, phát cảnh báo; chuyên gia và cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng, quyết định; phản hồi kết quả để hiệu chỉnh dữ liệu, quy tắc và mô hình. Mỗi bước phải gắn với chủ thể chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và dấu vết kiểm toán, hướng tới một quy trình ngắn, rõ, có thể đo được, không hình thành thêm tầng nấc hành chính.
Để mô hình phát huy hiệu quả trong thực tiễn, chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu thống nhất về thể chế, xác định "Hệ điều hành văn hóa số" là khung năng lực quản trị và điều phối, không phải một hệ thống công nghệ song song với hạ tầng văn hóa số, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia hay nền tảng số dùng chung. Trong đó, Bộ VH,TT&DL chủ trì chuyên môn; Trung tâm Dữ liệu quốc gia bảo đảm hạ tầng, quản trị và an toàn dữ liệu; cơ quan sở hữu nguồn dữ liệu chịu trách nhiệm chất lượng dữ liệu; cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm quyết định xử lý.
Cùng với đó là xây dựng khung chỉ báo quan sát văn hóa số theo hướng hai chiều, nhận diện cả giá trị tích cực và tín hiệu rủi ro; xây dựng kiến trúc dữ liệu theo mô hình liên hợp; phát triển AI theo từng bài toán, không chạy theo mô hình tổng quát; thể chế hóa quy trình kiểm chứng và giải quyết khác biệt trong đánh giá liên ngành; triển khai thí điểm có thời hạn, tiêu chí kết thúc và đánh giá độc lập; xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới chuyên gia liên ngành.
Theo TS Nguyễn Ngọc Cương, nếu xác định đúng vai trò, đúng dữ liệu và đúng quy trình, "Hệ điều hành văn hóa số" có thể trở thành năng lực dùng chung quan trọng: Vừa hỗ trợ bảo vệ an ninh văn hóa, chủ quyền văn hóa số và niềm tin xã hội; vừa giúp nhận diện, nuôi dưỡng và lan tỏa các giá trị tích cực của văn hóa Việt Nam. Tầm nhìn dài hạn không phải "điều khiển văn hóa", mà là tạo năng lực quản trị đủ nhạy để phát hiện sớm, đủ sâu để hiểu đúng và đủ trách nhiệm để hành động đúng trong kỷ nguyên số.
Chủ động định hình dòng chảy văn hóa
Cùng với yêu cầu đổi mới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, sự phát triển của các nền tảng xuyên biên giới cũng đặt ra những nhiệm vụ mới đối với việc bảo vệ và phát huy chủ quyền văn hóa số. Trong môi trường mà các dòng nội dung có thể vượt qua biên giới quốc gia với tốc độ nhanh chóng, năng lực làm chủ không gian văn hóa ngày càng gắn với khả năng quản trị nền tảng, bảo vệ dữ liệu, sáng tạo và phân phối các sản phẩm văn hóa.
Phân tích vấn đề này, TS Nguyễn Văn Tuấn (Phó Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân) nhấn mạnh: "Chủ quyền văn hóa số phải được hiểu là năng lực làm chủ và định hình không gian văn hóa của quốc gia trong môi trường số, trong đó bảo vệ bản sắc phải đi cùng với khuyến khích sáng tạo, quản trị nội dung phải gắn với phát triển thị trường, bảo vệ dữ liệu phải gắn với khai thác giá trị và phòng vệ phải gắn với chủ động lan tỏa văn hóa Việt Nam ra thế giới".

Công nghệ 3D Mapping, VR, AR tại triển lãm “Van Gogh Timeless - Van Gogh xuyên không” ở Hà Nội. Ảnh: Khánh Hòa
Đánh giá thực trạng, TS Nguyễn Văn Tuấn cho biết, đến tháng 11/2024, Việt Nam có khoảng 203 triệu tài khoản trên các mạng xã hội nước ngoài, trong khi các mạng xã hội trong nước có khoảng 110 triệu tài khoản. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có 85,6 triệu người sử dụng Internet, chiếm 84,2% dân số. Điều này cho thấy các nền tảng số đang trở thành môi trường quan trọng để người Việt Nam tiếp nhận, tương tác và lan truyền nội dung văn hóa.
Thời gian qua, Việt Nam đã từng bước hình thành cơ chế quản lý đối với các nền tảng và nội dung trên Internet, trong đó Nghị định 147/2024/NĐ-CP ngày 9/11/2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng đối với hoạt động cung cấp thông tin xuyên biên giới. Hoạt động thực thi pháp luật cũng đạt những kết quả nhất định, từng bước đặt ra trách nhiệm đối với các nền tảng xuyên biên giới.
Tuy nhiên, thực tiễn vẫn đặt ra nhiều vấn đề mà phương thức quản lý hiện nay chưa giải quyết đầy đủ. Đáng chú ý là khả năng kiểm soát dòng chảy nội dung vẫn chưa tương xứng với quy mô và tốc độ phát triển của các nền tảng xuyên biên giới; trách nhiệm của các nền tảng này đối với nội dung văn hóa cần tiếp tục được làm rõ và nâng cao.
Cùng với đó, quản trị dữ liệu văn hóa và tài nguyên văn hóa số chưa phát triển tương xứng với quá trình số hóa văn hóa; năng lực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nội dung văn hóa số còn đứng trước nhiều thách thức; năng lực tạo lập và phân phối nội dung văn hóa Việt Nam trên môi trường số chưa tương xứng với tiềm năng…
"Chủ quyền văn hóa số phải được hiểu là năng lực làm chủ và định hình không gian văn hóa của quốc gia trong môi trường số" - TS Nguyễn Văn Tuấn.
Từ thực trạng này, theo TS Nguyễn Văn Tuấn, khoảng trống lớn nhất hiện nay không phải là Việt Nam hoàn toàn thiếu các quy định pháp luật về Internet, nền tảng số hay nội dung trên mạng, mà là sự chưa đồng bộ giữa pháp luật và một hệ sinh thái công nghệ đang thay đổi rất nhanh.
Điều này cần được tiếp tục giải quyết: quản trị dữ liệu và tài nguyên văn hóa số chưa hình thành đầy đủ; cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường xuyên biên giới còn nhiều thách thức; năng lực tạo lập, phân phối và đưa nội dung văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế chưa tương xứng với quy mô của các dòng nội dung từ bên ngoài.
"Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là nâng cao khả năng "chống" những nội dung xuyên tạc, sai lệch hoặc có hại, mà phải đồng thời xây dựng năng lực "tạo", "quản trị", "phân phối" và "tạo ảnh hưởng" trong không gian văn hóa số" - TS Tuấn phân tích - "Đây chính là điểm chuyển từ tư duy quản lý nội dung sang tư duy quản trị hệ sinh thái nội dung số xuyên biên giới, đồng thời là điều kiện để chủ quyền văn hóa số được thực hiện trên cả 2 phương diện bảo vệ và phát huy".

Quét mã QR tìm hiểu thông tin tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ảnh: Phan Phương
Để giải quyết những vấn đề này, TS Nguyễn Văn Tuấn đề xuất cần hoàn thiện khung pháp luật theo hướng quản trị toàn bộ vòng đời nội dung số xuyên biên giới; thiết lập cơ chế trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới dựa trên mức độ ảnh hưởng và rủi ro; xây dựng cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với thuật toán phân phối nội dung; xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu và tài nguyên văn hóa số quốc gia.
Cùng với đó, cần hình thành cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi của chủ thể sáng tạo trong môi trường xuyên biên giới; xây dựng cơ chế phát hiện sớm và xử lý chủ động các nguy cơ xâm hại giá trị văn hóa trên không gian mạng; tăng cường hợp tác quốc tế và năng lực đàm phán, thực thi pháp luật đối với các vấn đề xuyên biên giới.
Theo TS Nguyễn Văn Tuấn, chỉ khi kết hợp được năng lực bảo vệ với năng lực sáng tạo, phân phối và tạo ảnh hưởng, Việt Nam mới có thể vừa giữ vững chủ quyền văn hóa số, vừa biến các giá trị văn hóa Việt Nam thành nguồn lực và sức mạnh mềm trong kỷ nguyên mới.
Nhìn rộng hơn, xây dựng văn hóa số Việt Nam không đơn thuần là quá trình ứng dụng công nghệ, mà còn là yêu cầu kiến tạo một môi trường văn hóa mới trên nền tảng bản sắc, chuẩn mực và sức sáng tạo của con người Việt Nam. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp giữa tầm nhìn chiến lược, năng lực quản trị và khả năng làm chủ công nghệ; giữa bảo vệ những giá trị đã được bồi đắp với chủ động sáng tạo, phát triển những giá trị mới.
Trên nền tảng này, không gian số sẽ trở thành một không gian phát triển của văn hóa Việt Nam, nơi các giá trị dân tộc tiếp tục được kế thừa, lan tỏa và chuyển hóa thành nguồn lực đóng góp cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.