Sáng 9/10, trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, các nhà quản lý, chuyên gia, đại diện doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đã tham gia phiên tọa đàm chuyên đề “Giáo dục đại học số và quốc tế hóa”.
Sáng 9/10, trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, các nhà quản lý, chuyên gia, đại diện doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đã tham gia phiên tọa đàm chuyên đề “Giáo dục đại học số và quốc tế hóa”.
Các ý kiến tại tọa đàm cho thấy, quốc tế hóa, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng hội tụ, tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với giáo dục đại học.
Trình bày về “Khung chính sách phát triển đại học số và quản trị thông minh”, Tiến sĩ Đặng Văn Huấn, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, chuyển đổi số trong giáo dục đại học không chỉ là số hóa tài liệu, triển khai hệ thống quản lý học tập hay đưa một số thủ tục lên môi trường điện tử. Quá trình này đòi hỏi thay đổi đồng thời phương thức đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị đại học và dịch vụ cho người học trên nền dữ liệu lớn, điện toán đám mây và AI.
Theo đó, câu hỏi đặt ra không chỉ là “ứng dụng công nghệ như thế nào”, mà là “xây dựng mô hình đại học trong môi trường số như thế nào”. Đại học số phải tổ chức hoạt động quản trị, đào tạo, nghiên cứu, phục vụ người học và kết nối với Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội trên nền dữ liệu và công nghệ số. Quản trị thông minh là bước phát triển cao hơn, sử dụng dữ liệu để phân tích, dự báo, hỗ trợ ra quyết định, trong đó AI được ứng dụng có kiểm soát và con người chịu trách nhiệm.
Khung chính sách phát triển đại học số được đề xuất gồm 6 trụ cột: hạ tầng số; dữ liệu đại học; giáo dục và đào tạo số; quản trị thông minh; năng lực số và AI; an toàn, đạo đức và giải trình. Trong đó, dữ liệu được xác định là trung tâm, phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, liên thông, dùng chung”.

Tọa đàm “Giáo dục đại học số và quốc tế hóa” tại Hà Nội ngày 9/10
Hiện hệ thống dữ liệu giáo dục đại học đã có hơn 4,86 triệu hồ sơ người học, hơn 193.000 hồ sơ nhà giáo và cán bộ quản lý; 100% thí sinh đăng ký tuyển sinh đại học trực tuyến. Hơn 3,54 triệu văn bằng đại học, 241.114 văn bằng thạc sĩ và 8.537 văn bằng tiến sĩ đã được số hóa.
Theo định hướng được đưa ra, mức độ trưởng thành số của cơ sở giáo dục đại học có thể được nhìn nhận theo 4 cấp độ: số hóa, tích hợp, quản trị dựa trên dữ liệu và đại học thông minh. Ở mức cao nhất, AI được ứng dụng có kiểm soát để dự báo, cá thể hóa, nhưng các quyết định quan trọng vẫn phải bảo đảm sự giám sát của con người.
Tiến sĩ Đặng Văn Huấn nhấn mạnh, chính sách cần chuyển trọng tâm “từ công nghệ sang dữ liệu”, gắn chuyển đổi số với tự chủ và trách nhiệm giải trình. Đích đến không phải là trường đại học có nhiều công nghệ nhất, mà là hệ thống giáo dục đại học mở, kết nối, dựa trên dữ liệu, vận hành thông minh, lấy người học làm trung tâm, thích ứng và dẫn dắt phát triển cùng AI.
Từ góc nhìn doanh nghiệp công nghệ, ông Bùi Hải Hưng, Phó Chủ tịch Tập đoàn Qualcomm chia sẻ: Cùng với sự phát triển của công nghệ, nhu cầu xây dựng đội ngũ nhân lực AI chất lượng cao ngày càng cấp thiết.
Qualcomm đang triển khai AI Residency Program tại Việt Nam nhằm phát triển tài năng AI trẻ thông qua đào tạo và nghiên cứu cùng các chuyên gia quốc tế. Theo số liệu được công bố, tỷ lệ tuyển trung bình của chương trình chỉ 2,1%; khoảng 80% học viên sau chương trình tiếp tục học tiến sĩ với học bổng toàn phần; 100 tài năng AI trẻ đã được tuyển dụng toàn thời gian và hơn 30 bài báo khoa học có học viên chương trình là tác giả thứ nhất đã được chấp nhận.
Tuy nhiên, khi AI ngày càng có khả năng đảm nhiệm nhiều công việc, năng lực công nghệ không phải yếu tố duy nhất quyết định khả năng thích ứng và tạo giá trị của người tốt nghiệp. Ông Paul Julian Bennett, Giám đốc Khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) cho rằng, kỳ vọng đối với người tốt nghiệp đang chuyển từ bằng cấp sang năng lực. Ông đề xuất chuyển từ mô hình năng lực hình chữ I, nhấn mạnh chiều sâu chuyên môn và hình chữ T, kết hợp chuyên môn với nền tảng kiến thức rộng, sang mô hình hình chữ M.

Năm học 2025-2026: Giáo dục đại học và đào tạo nhân lực chiến lược có chuyển biến rõ nét
Trong mô hình mới, chuyên môn vẫn là nền tảng nhưng được bổ sung bởi hai trụ cột là năng lực số và kỹ năng con người; toàn bộ cấu trúc được kết nối bởi tư duy toàn cầu. “Mô hình chữ I dành cho công việc ổn định. Mô hình chữ T dành cho công việc có tính kết nối. Mô hình chữ M dành cho một thế giới không ngừng thay đổi”, ông Paul Julian Bennett chia sẻ.
Theo ông Paul Julian Bennett, quốc tế hóa cũng không nhất thiết chỉ diễn ra khi sinh viên ra nước ngoài. Thông qua chương trình và bằng cấp được kiểm định quốc tế, đội ngũ giảng viên, sinh viên quốc tế cùng sự tham gia của các doanh nghiệp toàn cầu, các trường có thể thực hiện “quốc tế hóa tại chỗ”, giúp sinh viên hình thành tư duy toàn cầu ngay tại Việt Nam. Mục tiêu là đào tạo người tốt nghiệp “có thể làm được việc, làm việc cùng người khác và làm việc ở bất cứ đâu”.
Ở góc độ hợp tác quốc tế, ông Stefaan Hermans, Tổng Cục trưởng phụ trách Hợp tác quốc tế, Giáo dục, Thanh niên, Thể thao và Văn hóa của Ủy ban châu Âu chia sẻ: Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) cần tận dụng tốt hơn những cơ hội để tăng tốc và mở rộng quy mô hợp tác giáo dục, chuyển từ những dự án và mối quan hệ giữa từng cơ sở riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái mạnh hơn. Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện tạo nền tảng lâu dài cho hợp tác giáo dục, phù hợp với quá trình hiện đại hóa và quốc tế hóa hệ thống giáo dục của Việt Nam.
Ông Stefaan Hermans nhấn mạnh, giai đoạn tới không đơn thuần là có thêm nhiều hoạt động hay nhiều dự án, mà quan trọng hơn là tăng tính kết nối và tạo ra tác động lớn hơn; tiến tới cùng kiến tạo giữa Việt Nam và EU với tư cách những đối tác chiến lược tin cậy.
Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số diễn ra trong hai ngày 8-9/10, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết và được trao. Trong đó, có một Bản ghi nhớ cấp Chính phủ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh, 6 văn bản cấp Cục và 17 biên bản ghi nhớ giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, tổ chức trong nước với đối tác quốc tế. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực và giáo dục nghề nghiệp.