Ngày 7/10, tại Hà Nội, Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học "Xã hội học và Tâm lý học trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo" nhằm làm rõ những tác động của trí tuệ nhân tạo đối với con người và xã hội Việt Nam, đồng thời trao đổi về những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực xã hội học, tâm lý học.
Ngày 7/10, tại Hà Nội, Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học "Xã hội học và Tâm lý học trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo" nhằm làm rõ những tác động của trí tuệ nhân tạo đối với con người và xã hội Việt Nam, đồng thời trao đổi về những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực xã hội học, tâm lý học.
Phát biểu khai mạc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học cho biết, cách đây khoảng hai năm, trí tuệ nhân tạo chủ yếu được đề cập tại các diễn đàn về công nghệ. Đến nay, công nghệ này đã trở thành một phần trong hoạt động hằng ngày của nhiều người và đặt ra yêu cầu quản lý cụ thể. Các số liệu được công bố gần đây cho thấy mức độ sử dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam tăng nhanh. Tuy nhiên, các số liệu về số người sử dụng và thời gian sử dụng mới cho biết người dân dùng trí tuệ nhân tạo nhiều hay ít, chưa trả lời được những câu hỏi như ai đang sử dụng, sử dụng vào việc gì, thay thế hoạt động nào và tác động đến người sử dụng ra sao. Đây là vấn đề xã hội học và tâm lý học cần tập trung nghiên cứu. Hiện Việt Nam chưa có một cuộc điều tra quốc gia đo trực tiếp và đầy đủ những tác động xã hội, tâm lý của việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. Do đó cần có những nghiên cứu dựa trên số liệu thực tế của Việt Nam, trong đó chú ý đến trẻ em, thanh thiếu niên, người lao động có kỹ năng thấp và người dân ở vùng khó khăn.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: Thanh Hương - TTXVN
Tiến sĩ Đinh Thị Mai, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định, trí tuệ nhân tạo đang trở thành một trong những động lực công nghệ quan trọng của thời đại. Điểm khác biệt của trí tuệ nhân tạo so với nhiều công nghệ trước đây không chỉ thay thế sức lao động hoặc tự động hóa công việc, mà còn tham gia vào những hoạt động vốn gắn với con người như nhận thức, ngôn ngữ, sáng tạo, giao tiếp và ra quyết định. Vì vậy, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách con người học tập, làm việc, suy nghĩ và tương tác. Công nghệ này mang lại nhiều cơ hội trong nâng cao năng suất lao động, giáo dục, y tế, dịch vụ công, chăm sóc sức khỏe tâm thần và tiếp cận tri thức. Tuy nhiên, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo cũng có những mặt cần lưu ý, như nguy cơ làm giảm khả năng tư duy độc lập, tăng sự phụ thuộc vào máy móc và tác động đến đời sống, tình cảm, sức khỏe tâm thần, nhất là ở thanh thiếu niên.
Từ thực tế đó, Tiến sĩ Đinh Thị Mai nhấn mạnh con người cần được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Xã hội học và tâm lý học, không chỉ nghiên cứu những gì đã xảy ra mà cần dự báo những thay đổi có thể xảy ra, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp phù hợp. Các nghiên cứu cần phải làm rõ tác động của trí tuệ nhân tạo đối với cá nhân, gia đình, nhà trường, nơi làm việc và cộng đồng; đồng thời xem xét những thay đổi đối với việc làm, quan hệ lao động, phân tầng xã hội và bất bình đẳng.
Tiến sĩ Đỗ Thị Lệ Hằng, Viện Xã hội học và Tâm lý học chia sẻ trí tuệ nhân tạo đang được sử dụng trong nhiều hoạt động của tâm lý học như phân tích dữ liệu, nhận diện cảm xúc, sàng lọc và đánh giá tâm lý, hỗ trợ tham vấn, chăm sóc sức khỏe tâm thần và đào tạo. Ngoài ra, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ nhận diện ban đầu một số vấn đề tâm lý, theo dõi trạng thái tâm lý, cung cấp thông tin về sức khỏe tâm thần và hỗ trợ một số kỹ thuật như thư giãn, chánh niệm. Trí tuệ nhân tạo cũng có thể hỗ trợ chuyên gia tổng hợp thông tin, tham khảo tài liệu và đưa ra gợi ý trong một số trường hợp. Tuy nhiên, công nghệ này còn nhiều hạn chế khi xử lý các trường hợp phức tạp và cũng có thể gặp khó khăn trong nhận diện triệu chứng không điển hình, đánh giá mức độ nghiêm trọng, đánh giá nguy cơ tự sát hoặc đưa ra quyết định điều trị. Do đó, trí tuệ nhân tạo chỉ nên được xem là công cụ hỗ trợ. Các quyết định chuyên môn trong chăm sóc sức khỏe tâm thần vẫn cần sự tham gia của người có chuyên môn.
Trong đào tạo tâm lý học, trí tuệ nhân tạo cũng mở ra nhiều cách làm mới. Công nghệ này có thể hỗ trợ sinh viên học tập, tìm kiếm và tổng hợp tài liệu, phân tích dữ liệu, luyện tập kỹ năng thông qua các tình huống mô phỏng và nhận phản hồi. Đối với tâm lý học tổ chức, trí tuệ nhân tạo đang được sử dụng trong tuyển dụng, đào tạo, quản lý nhân sự và đánh giá hiệu quả công việc. Điều này đặt ra những vấn đề về công bằng, minh bạch, quyền riêng tư, lòng tin và sức khỏe tâm lý của người lao động.
Tại Hội thảo, các đại biểu đề nghị tăng cường nghiên cứu về tác động của trí tuệ nhân tạo đối với con người và xã hội Việt Nam; xây dựng các cuộc điều tra có quy mô và phương pháp phù hợp để có số liệu thực tế. Bên cạnh đó, cần xây dựng những quy định cụ thể về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu, đào tạo và thực hành tâm lý học; nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ cho đội ngũ chuyên môn; tăng cường phối hợp giữa xã hội học, tâm lý học với các ngành khoa học máy tính, kinh tế, luật và giáo dục. Không nên chỉ nhìn trí tuệ nhân tạo theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều cần thiết là có thêm nghiên cứu và số liệu thực tế để đánh giá đúng những thay đổi do công nghệ này mang lại, từ đó có cách sử dụng phù hợp, bảo đảm lợi ích của con người và xã hội.