Tối 28/9 tại Sotheby's Hong Kong (Trung Quốc), bức "Conversation d'Elégantes Au Jardin" (tạm dịch: "Đàm đạo", màu nước và màu bột trên lụa, 85,6 x 114,5cm, 1939) của Vũ Cao Đàm đã bán 28,96 triệu HKD, tương đương 3,69 triệu USD, vượt mặt "Chân dung cô Phượng" của Mai Trung Thứ, từng đấu giá 24,3 triệu HKD, tương đương 3,11 triệu USD. Với mức này, bức "Đàm đạo" đang là quán quân về giá bán của tranh Việt Nam trên thị trường công khai.
Tối 28/9 tại Sotheby's Hong Kong (Trung Quốc), bức Conversation d'Elégantes Au Jardin (tạm dịch: Đàm đạo, màu nước và màu bột trên lụa, 85,6 x 114,5cm, 1939) của Vũ Cao Đàm đã bán 28,96 triệu HKD, tương đương 3,69 triệu USD, vượt mặt Chân dung cô Phượng của Mai Trung Thứ, từng đấu giá 24,3 triệu HKD, tương đương 3,11 triệu USD. Với mức này, bức Đàm đạo đang là quán quân về giá bán của tranh Việt Nam trên thị trường công khai.
Trong mắt của nhiều người ở ngoài nghề, tranh lụa có vẻ mong manh, không được bền, nên giá bán khó mà cao, nhưng qua Đàm đạo và như nhiều bức lụa ra đời từ trước năm 1945, ta sẽ thấy tranh lụa Việt Nam có độ bền đáng ngạc nhiên. Về bề mặt, sự kết dính và bảng màu, có thể thấy Đàm đạo còn gần như nguyên vẹn, với cách xử lý màu nước và màu bột thủ công có xuất xứ từ Ba Tư, Đôn Hoàng… rất đặc biệt.
Ngược dòng lịch sử, đầu thập niên 1930, nghĩa là ngay từ khóa 1 của Trường Mỹ thuật Đông Dương tốt nghiệp, tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm… đã có sức hút lớn trên thị trường, đặc biệt là với các triển lãm - đấu xảo tại Hà Nội và Paris. Chính điều này làm cho việc "Đàm đạo" ra đời tại Pháp năm 1939 đã nhanh chóng được mời triển lãm trang trọng và được yêu quý bền chặt sau đó.

Bức “Đàm đạo” đang là quán quân về giá bán trên thị trường công khai của Việt Nam
Nghĩa là từ trong lịch sử, ở thị trường quốc tế, tranh lụa Việt Nam dù xuất hiện không nhiều, nhưng không hề lép vế so với các vật liệu khác. Ngoài chất lượng nghệ thuật và tình trạng hoàn hảo, về khổ tranh, suốt đời Vũ Cao Đàm chỉ có 4 bức tranh lụa to hơn 100cm, nên bức Đàm đạo càng trở nên đặc biệt với các nhà sưu tập ngày nay. Đây cũng là một lý do quan trọng để "Đàm đạo" đạt quán quân về giá công khai như hôm nay.
Nếu Đàm đạo được một nhà sưu tập trong nước đấu giá thành công và hồi hương tác phẩm, thì càng có thêm nhiều ý nghĩa, không chỉ với lịch sử tranh lụa, mà còn với các khía cạnh khác của thị trường nghệ thuật, của công nghiệp văn hóa. Nói cụ thể, các giao dịch triệu đô xuyên quốc gia, rõ ràng về thuế má, lệ phí… sẽ góp phần vào việc kiện toàn và định hình các vấn đề về tài chính, pháp lý cho thị trường công khai. Các giao dịch dạng này, vì vậy không chỉ bó gọn ở việc mua bán một bức tranh, mà còn trở thành một nhịp cầu giữa thị trường quốc tế và thị trường nội địa.
Cuối cùng, trong 10 bức tranh Việt Nam đắt giá nhất trên thị trường công khai thì đã có đến 5 bức tranh lụa, một con số áp đảo, khó có vật liệu nào khác được như vậy. Đa phần họa sĩ vẽ tranh lụa thành công trên thị trường là nam giới. Đây sẽ là một động lực hoặc cảm hứng để nhiều sinh viên tự tin trong việc chọn bộ môn lụa hoặc khoa lụa để theo học. Bởi lẽ, đã có nhiều lúc, bộ môn lụa thiếu sinh viên theo học, làm cho các trường mỹ thuật phải gióng các hồi chuông cảnh báo.