Từ câu chuyện "Từ một mùa trăng đến một thế hệ sáng tạo" ở số trước, có thể thấy ngày càng nhiều người trẻ đang chủ động tìm về di sản, nghiên cứu, thực hành và tạo ra những sản phẩm mới từ vốn văn hóa được trao truyền. Nhưng đam mê và sức sáng tạo mới chỉ là điểm khởi đầu.
Từ câu chuyện "Từ một mùa trăng đến một thế hệ sáng tạo" ở số trước, có thể thấy ngày càng nhiều người trẻ đang chủ động tìm về di sản, nghiên cứu, thực hành và tạo ra những sản phẩm mới từ vốn văn hóa được trao truyền. Nhưng đam mê và sức sáng tạo mới chỉ là điểm khởi đầu.
Để những lựa chọn này không dừng lại ở một "cuộc chơi", mà có thể trở thành nghề nghiệp, sinh kế bền vững và góp phần tạo thêm nguồn lực cho phát triển văn hóa, người trẻ còn phải vượt qua khoảng cách từ ý tưởng, sản phẩm đến thị trường, đồng thời cần một hệ sinh thái đủ sức đồng hành và nâng đỡ.
Chiều sâu văn hóa là điểm tựa của sáng tạo
Tại triển lãm Lưu trăng đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, 22 Hàng Buồm (Hà Nội), nhiều kỹ nghệ, hình tượng và chất liệu văn hóa truyền thống đã được người trẻ làm mới thành những sản phẩm gần gũi hơn với đời sống hôm nay.
Những thử nghiệm này cho thấy vốn văn hóa vẫn còn nhiều khả năng được tiếp tục khai thác, nhưng cũng đặt ra một yêu cầu quan trọng: Sáng tạo từ di sản không thể chỉ dừng ở việc làm mới hình thức, mà trước hết phải bắt đầu từ sự hiểu biết sâu về những giá trị được trao truyền.

Nghệ nhân trẻ của dự án “Của Nả” nghiên cứu, sáng tạo các mẫu đèn từ kỹ nghệ làm đồ chơi truyền thống. Ảnh: NVCC
Bởi vậy, sáng tạo từ di sản cũng là bài toán về cách ứng xử với truyền thống. Kích thước, màu sắc, vật liệu hay công năng của sản phẩm có thể thay đổi để thích ứng với đời sống đương đại, nhưng người sáng tạo phải nhận diện được đâu là phần có thể biến đổi và đâu là những giá trị cốt lõi cần giữ lại để sản phẩm mới không đánh mất bản sắc.
Với những chiếc đèn của dự án Của Nả do Trịnh Văn Khuê và Nguyễn Tuấn Anh thực hiện, quá trình làm mới bắt đầu từ việc tìm kiếm tư liệu, nghiên cứu cấu tạo con vật, cách xử lý tre, phương thức liên kết, cơ chế chuyển động cũng như bố cục và màu sắc của đồ chơi truyền thống. Phía sau những chiếc đèn con cua, con tôm, cá chép, nhật nguyệt hay đầu sư tử là hàng loạt công đoạn từ lựa chọn tre, chẻ tre, vuốt nan, dựng khung, bồi giấy đến thử nghiệm các cách liên kết.
Để sản phẩm không chỉ tái hiện hình dáng mà còn có khả năng chuyển động, nhóm nghệ nhân trẻ này còn nghiên cứu cách tôm, cua, cá co, duỗi, gập; thử nhiều phương thức xử lý vật liệu và kết cấu khác nhau. Trên nền kỹ nghệ truyền thống, nhóm sử dụng thêm dây kim loại để gia cố hay uốn nóng nan tre nhằm tạo bộ khung vừa đúng hình, vừa đủ chắc chắn và phù hợp hơn với yêu cầu sử dụng hiện nay.
Ở một hướng khác, các hình tượng ngựa, voi hay đầu sư tử của Nam Chi cũng được phát triển từ quá trình tìm hiểu mỹ thuật đình làng, tín ngưỡng Việt Nam và các hình thức tạo tác truyền thống.

Nghệ nhân trẻ Nam Chi bên các sản phẩm ngựa, voi, đầu sư tử được sáng tạo từ cảm hứng mỹ thuật và văn hóa truyền thống. Ảnh: NVCC
Với dự án Thong Dong, nghệ nhân trẻ này xác định tinh thần "không phục dựng quá khứ, tiếp nối sức sống của di sản". Từ nền tảng ấy, những hình tượng truyền thống được tái cấu trúc thành các cỗ xe đồ chơi, những bộ ngựa Bạch Mã, Hồng Mã, Hắc Mã, Thiết Mã hay voi bành Hắc Tượng, Thương Tượng, Bạch Tượng...; chất liệu cũng có thể mở rộng sang nhựa, vải hay các chi tiết kim hoàn.
Việc tìm về truyền thống, vì thế, không đồng nghĩa với sao chép nguyên trạng một hình thức cũ. Người sáng tạo có thể đưa vào bảng màu mới, vật liệu mới hay thay đổi cách thức sử dụng, nhưng những nguyên tắc về bố cục, tạo hình, kỹ thuật và hệ ý nghĩa của sản phẩm vẫn cần được nhận diện và tiếp nối. Với những hình tượng ngựa, voi chẳng hạn, quá trình sáng tạo phải bắt đầu từ việc hiểu tạo hình truyền thống, bởi trong tranh dân gian, đồ chơi, đồ vật do cha ông để lại đều chứa đựng những lớp nghĩa văn hóa riêng.
Chính ở đây có thể thấy sự khác biệt giữa sáng tạo từ vốn văn hóa với việc chỉ vay mượn một vài yếu tố truyền thống để tạo hiệu ứng thị giác. Chiều sâu của sản phẩm nằm ở tri thức phía sau nó, đó là sự hiểu biết về cấu trúc thẩm mỹ, kỹ nghệ, chất liệu và hệ giá trị mà di sản mang theo. Khi nắm được những nền tảng này, người trẻ mới có thể mạnh dạn làm mới mà không làm mất đi cốt lõi văn hóa của sản phẩm.
Điều này càng quan trọng khi các sản phẩm bước vào đời sống hiện tại, nơi không gian sống, vật liệu, công nghệ và nhu cầu thẩm mỹ đều đã thay đổi. Tiếp nối truyền thống vì thế không phải là làm lại cái cũ, mà là chuyển hóa những giá trị được trao truyền thành ngôn ngữ phù hợp với hôm nay. Và chỉ trên nền tảng ấy, những thử nghiệm sáng tạo mới có cơ sở để đi xa hơn, từ một sản phẩm giàu ý tưởng tới khả năng được công chúng tiếp nhận và tham gia vào đời sống đương đại.
"Đóng gói" giá trị văn hóa cho thị trường
Để sáng tạo từ vốn văn hóa trở thành một sinh kế bền vững, chiều sâu văn hóa và chất lượng sản phẩm mới chỉ là những điều kiện ban đầu. Sản phẩm còn phải bước vào quan hệ thị trường, với những yêu cầu cụ thể về công chúng, giá cả, quy mô sản xuất, phân phối và khả năng tạo doanh thu.

Khách tham quan thích thú khám phá những món đồ chơi gắn với Tết Trung thu truyền thống do các nghệ nhân trẻ thực hiện tại triển lãm “Lưu trăng”. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Khoảng cách lớn vì thế không chỉ nằm giữa ý tưởng và sản phẩm, mà còn giữa sản phẩm và khả năng duy trì hoạt động sáng tạo lâu dài. Nhiều người trẻ có thể làm ra sản phẩm tốt nhưng vẫn thiếu đầu ra ổn định, khó mở rộng sản xuất hoặc chưa hình thành được thị trường riêng. Bài toán đặt ra là làm thế nào để giá trị văn hóa được chuyển hóa thành một chuỗi giá trị có khả năng vận hành và tạo sinh kế.
Ở đây, theo các chuyên gia, việc hiểu thị trường không nên được hiểu là chạy theo thị hiếu một cách thụ động. Với sản phẩm văn hóa, thị trường còn là quá trình tìm kiếm nhóm công chúng phù hợp với giá trị mình đang tạo ra. Có sản phẩm hướng tới khách du lịch, có sản phẩm dành cho người trẻ, có dòng quà tặng phổ thông, cũng có những sản phẩm thủ công đòi hỏi nhiều thời gian, kỹ năng và tri thức, vì thế chỉ phù hợp với phân khúc có khả năng chi trả cao hơn.
Mặt khác, giá của sản phẩm cũng gắn với mức độ đầu tư về trí tuệ, tài năng, sức lao động và thời gian. Vì vậy, cần tính tới những phân khúc thị trường khác nhau, từ sản phẩm cao cấp đến các dòng phổ thông, đại trà; qua đó xây dựng những mức giá phù hợp với từng nhóm người tiêu dùng.
Từ đây, sáng tạo từ văn hóa bắt đầu chạm tới tư duy của công nghiệp văn hóa. Giá trị văn hóa chỉ thực sự tham gia thị trường khi được tổ chức thành sản phẩm có công chúng, phương thức sản xuất, kênh phân phối và khả năng tạo doanh thu. Theo chuyên gia, điều cần làm là "đóng gói" những sản phẩm, những giá trị văn hóa này thành giá trị kinh tế, tức đưa các giá trị ấy vào đời sống bằng những sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và tham gia thị trường.
Việc "đóng gói" này có thể mang tới những hình thức mới để giá trị văn hóa tiếp tục đi vào đời sống. Kỹ nghệ, hình tượng, ngôn ngữ thẩm mỹ truyền thống có thể được phát triển trên chất liệu, công năng và cách sử dụng khác, trong khi phần giá trị hồn cốt vẫn được giữ lại. Từ đó, chiều sâu văn hóa có thêm cơ hội được chuyển hóa thành giá trị kinh tế thông qua những sản phẩm giàu sáng tạo của người trẻ.
Cần một hệ sinh thái để đi đường dài
Ngay cả khi đã tạo được sản phẩm và bước đầu tìm thấy thị trường, khả năng phát triển lâu dài vẫn không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của từng cá nhân. Người trẻ còn cần những điều kiện để hoàn thiện sản phẩm, tiếp cận công chúng, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra - những việc khó có thể tự giải quyết chỉ bằng năng lực sáng tạo.
Ngay cả một sản phẩm tốt cũng cần có nơi để xuất hiện, cần được thị trường biết đến và cần những kết nối để tiếp tục phát triển. Sự hỗ trợ vì thế có thể đến từ nhiều hướng: Tạo không gian triển lãm, kết nối với nghệ nhân, hỗ trợ truyền thông, xây dựng thương hiệu hay mở những kênh để sản phẩm gặp được người sử dụng.
Trường hợp tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật 22 Hàng Buồm - nơi tổ chức triển lãm Lưu trăng - cho thấy một hình thức hỗ trợ khá cụ thể. Không gian do Ban Quản lý Hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội quản lý được dành cho hoạt động triển lãm, giúp các nhóm sáng tạo giảm được một phần chi phí tổ chức, đồng thời tạo nơi để sản phẩm gặp trực tiếp công chúng. Đáng nói, một số sản phẩm đã có người mua, cho thấy những thử nghiệm bước đầu chạm tới nhu cầu của công chúng.
Ở góc độ chính sách, những điều kiện để hình thành môi trường cho sáng tạo văn hóa đang được đặt ra ngày càng cụ thể. Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đến năm 2030 "hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo", đồng thời yêu cầu phát triển các không gian sáng tạo, môi trường kết nối cho doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa; khuyến khích các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo, hợp tác công - tư và xây dựng Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình công tư.
Tiếp đó, Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa về nguồn lực khi quy định thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương và một số địa phương.
Quỹ hoạt động theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận khả năng rủi ro; nguồn lực của quỹ được sử dụng để tài trợ, hỗ trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, cũng như các chương trình, dự án có tính sáng tạo đột phá, có tiềm năng thị trường và khả năng thương mại hoá, khả năng lan tỏa, tác động xã hội.
Những cơ chế này cho thấy trọng tâm chính sách không chỉ nằm ở việc bảo tồn hay hỗ trợ từng hoạt động văn hóa riêng lẻ, mà đang mở rộng sang việc tạo điều kiện để giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và những mô hình sáng tạo có khả năng phát triển trên thị trường.
Với những người trẻ đang bắt đầu từ di sản, điều đó đặc biệt có ý nghĩa. Bởi giữa một ý tưởng sáng tạo với một sản phẩm có khả năng tồn tại lâu dài vẫn còn nhiều khoảng trống về vốn ban đầu, không gian thử nghiệm, năng lực hoàn thiện sản phẩm, truyền thông, thương hiệu và kết nối thị trường. Một hệ sinh thái chỉ thực sự có ý nghĩa khi những khoảng trống ấy được lấp đầy bằng các nguồn lực và thiết chế có khả năng hỗ trợ đúng giai đoạn, đúng nhu cầu.
Nhìn từ những trường hợp đang xuất hiện trong thực tế, có thể thấy "hạt nhân" của hệ sinh thái này đã có. Đó là những người trẻ sẵn sàng nghiên cứu, tiếp nhận tri thức truyền thống, thử nghiệm cách biểu đạt mới và tìm đường đưa sản phẩm tới công chúng.
Đáng chú ý, lực lượng tiếp nối hôm nay không còn chỉ giới hạn trong các gia đình có nghề, làng nghề truyền thống. Ngày càng nhiều người trẻ từ những lĩnh vực khác nhau chủ động tìm hiểu, thực hành và sáng tạo từ di sản, qua đó hình thành những kết nối mới với nghệ nhân, nhà nghiên cứu và người nắm giữ tri thức.
Vấn đề còn lại là tạo được môi trường để những nỗ lực đó không dừng ở từng dự án riêng lẻ. Khi tri thức văn hóa được kết nối với năng lực sáng tạo, sáng tạo được tiếp sức bằng nguồn lực và sản phẩm tìm được đường tới thị trường, đam mê mới có cơ hội trở thành sinh kế, còn những thử nghiệm nhỏ mới có khả năng phát triển thành những chủ thể thực sự của công nghiệp văn hóa.