thethaovanhoa.vn

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa

Nguyễn Trọng Lịch/TTXVN 24/09/2026 15:52 GMT+7

Làng nghề Việt Nam là nơi lưu giữ những kỹ thuật, tri thức được trao truyền qua nhiều thế hệ và ngày nay đang đứng trước một cơ hội lớn, đó là biến giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển.

Làng nghề Việt Nam là nơi lưu giữ những kỹ thuật, tri thức được trao truyền qua nhiều thế hệ và ngày nay đang đứng trước một cơ hội lớn, đó là biến giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển. 

Khi kinh nghiệm truyền thống gặp gỡ sự sáng tạo, kết nối với thị trường thì những sản phẩm thủ công không những để sử dụng hay trưng bày mà đang trở thành những "đại sứ" mang bản sắc Việt vươn xa mọi nơi.

Giữ hồn nghề, nâng sức cạnh tranh với sản phẩm công nghiệp

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra một cách nhìn mới đó là văn hóa không đứng phía sau mà đồng hành và dẫn dắt sự phát triển. Những làng nghề nói chung và đặc biệt làng nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng đang có thêm sức mạnh.

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 1.

Mỗi sản phẩm gốm Hương Canh mang dấu ấn sáng tạo và kinh nghiệm của người nghệ nhân. Ảnh: Hoàng Hùng – TTXV

Đằng sau sự hồi sinh của các nghề thủ công là những người thợ vẫn tâm huyết quyết giữ nghề, đồng thời tìm cách thích ứng với nhu cầu mới. Họ không chỉ duy trì kỹ thuật truyền thống mà còn chú trọng đổi mới mẫu mã, thiết kế, công năng và tiếp cận thị trường. Quá trình này giúp các giá trị văn hóa truyền thống được chuyển hóa thành sản phẩm, việc làm và giá trị kinh tế. Từ nghề thủ công của làng quê, thủ công mỹ nghệ đang từng bước trở thành một bộ phận của công nghiệp văn hóa, nơi truyền thống được phát huy thông qua sáng tạo và đổi mới.

Câu chuyện về nghề gốm Hương Canh là một minh chứng, khi những giá trị truyền thống được gìn giữ, đổi mới và từng bước tạo dựng giá trị mới.

Nhà điêu khắc – họa sĩ Nguyễn Hồng Quang, người sinh sống và làm nghề tại làng gốm Hương Canh, xã Bình Nguyên (Phú Thọ) cho hay, nghề gốm Hương Canh có lịch sử hơn 300 năm, trải qua nhiều thăng trầm. Đã có thời kỳ nhà nhà làm gốm, nghề gốm mang lại cuộc sống ấm no cho nhiều gia đình. Tuy nhiên, từ năm 1986 trở đi, nghề gốm Hương Canh dần mai một và có lúc gần như bị xa bỏ toàn bộ làng nghề trước sự cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp như sản phẩm từ vật liệu là nhôm, nhựa, Inox…lên ngôi và chiếm lĩnh thị trường.

Sinh ra và lớn lên trong làng nghề, anh Nguyễn Hồng Quang sớm thành thạo các kỹ thuật làm gốm. Nhưng chứng kiến nghề suy giảm, anh quyết định theo học Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội để tìm hướng đi mới.

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 2.

Nghệ nhân Nguyễn Hồng Quang kiểm tra màu sắc và độ chín của sản phẩm gốm sau khi nung. Ảnh: Hoàng Hùng – TTXVN

Sau khi ra trường, anh kết hợp kinh nghiệm truyền thống với kiến thức hiện đại và sự sáng tạo. Dù ban đầu không ít mẻ gốm thất bại, anh vẫn kiên trì học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, nghiên cứu thị hiếu khách hàng trong và ngoài nước. Từng bước, gốm Hương Canh tìm được hướng đi mới và đạt những kết quả tích cực.

Bên cạnh sản phẩm truyền thống, anh phát triển các dòng gốm ứng dụng như phù điêu, tiểu cảnh, trang trí nội – ngoại thất và các sản phẩm mỹ thuật độc bản. Những sản phẩm này ngày càng nhận được phản hồi tích cực từ thị trường. Cơ sở gốm phát triển ổn định, mỗi năm gia đình anh Nguyễn Hồng Quang cung cấp hàng nghìn sản phẩm, mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng. Hiện nay một số gia đình khác ở Hương Canh cũng có những đổi mới và sản xuất- kinh doanh nghề gốm đạt được nhiều kết quả khả quan, cùng chung sức giữ được nghề và phát triển nghề gốm truyền thống ương Canh.

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 3.

Trẻ em trải nghiệm làm gốm truyền thống Hương Canh. Ảnh: Hoàng Hùng – TTXVN

Làm gốm theo hướng mới đòi hỏi phải lắng nghe nhu cầu thị trường, thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng và tính thẩm mỹ. Đặc biệt, với gốm mỹ thuật ứng dụng, cần đưa câu chuyện vào sản phẩm. Một tác phẩm gốm thành công có thể có giá trị tương đương hàng trăm sản phẩm thông thường.

"Trong con người tôi có hai dòng máu: dòng máu nghệ nhân được thừa hưởng từ cha ông và dòng máu nghệ sĩ được đào tạo bài bản về mỹ thuật, về tinh hoa văn hóa Việt. Tôi chú ý lựa chọn những giá trị tinh túy, tận dụng cơ hội từ đồng nghiệp, tổ chức và địa phương để phát triển cơ sở sản xuất của gia đình và làng nghề."- Nhà điêu khắc – họa sĩ Nguyễn Hồng Quang chia sẻ.

Từ giữ nghề đến tạo sinh kế

Cũng như gốm Hương Canh, nghề làm nón làng Chuông (thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai (cũ) nay là xã Dân Hòa, Hà Nội) đang cho thấy sức sống của nghề truyền thống khi được gìn giữ.

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 4.

Từ khung nón ban đầu, người thợ lần lượt thực hiện nhiều công đoạn như xử lý lá, vức vòng, quay nón, khâu nón, lồng nhôi, cạp nón… để làm nên một chiếc nón hoàn chỉnh. Ảnh: Vân Chi - TTXVN phát

Giữa vùng quê ven sông Đáy, làng Chuông vẫn gìn giữ nghề làm nón lá truyền thống. Từ vật dụng quen thuộc trong đời sống, nón lá dần trở thành sản phẩm văn hóa, thể hiện sự khéo léo của nhiều thế hệ người thợ. Trong quá trình hiện đại hóa, làng Chuông không chỉ giữ nghề mà còn phát triển sản phẩm gắn với du lịch trải nghiệm và quảng bá văn hóa.

Theo chị Lê Thị Hà Phương- người gắn bó lâu năm với nghề, làng Chuông hiện có hàng trăm hộ sản xuất nón. Trước đây, nón chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Những năm gần đây, nhu cầu đối với các sản phẩm mang giá trị văn hóa, truyền thống tăng lên, tạo điều kiện để người dân cải tiến chất lượng, đa dạng mẫu mã và mở rộng thị trường.

Nón làng Chuông hiện được tiêu thụ tại nhiều đô thị và xuất khẩu. Sản phẩm ngày càng đa dạng, từ nón in hoa văn, nón cô dâu, nón dành cho nhà sư đến các loại nón phục vụ du lịch. Nón phổ thông có giá khoảng 50.000-70.000 đồng/chiếc; loại cầu kỳ từ 250.000-300.000 đồng/chiếc. Nghề làm nón cũng tạo việc làm cho lao động nông nhàn, người cao tuổi, trẻ em và lao động ở các địa phương lân cận, với thu nhập khoảng 150.000-300.000 đồng/người/ngày.

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 5.

Các vòng tre được vót mỏng, uốn tròn, là phần định hình dáng nón. Ảnh: Vân Chi - TTXVN phát

Không chỉ tạo sinh kế, nghề làm nón còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa làng quê ven sông Đáy. Chiếc nón gắn với áo dài, chợ quê, hội làng và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Những chiếc nón với nhiều kiểu dáng, màu sắc, hoa văn và kích thước khác nhau, từ nón truyền thống đến nón cách điệu, vừa mang giá trị sử dụng, vừa chứa đựng câu chuyện về nghề thủ công và đời sống văn hóa của vùng quê ven sông Đáy. Làng nghề ngày càng có nhiều du khách đến tham quan, trải nghiệm và mua sản phẩm không chỉ giúp quảng bá hình ảnh địa phương mà còn tạo thêm đầu ra cho sản phẩm, góp phần nâng cao giá trị của nghề làm nón và thu nhập cho người dân. Mỗi năm làng nghề và các cơ sở sản xuất lân cận cung cấp cho thị trường hàng triệu chiếc nón, chủ yếu phục vụ tiêu dùng và hàng lưu niệm cho khách du lịch.

Theo Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam: "Làng nghề Việt Nam nói chung rất phong phú; nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta cũng đa dạng. Điều đáng chú ý là vẫn giữ được hồn cốt văn hóa dân tộc. Những người duy trì và phát triển nghề rất ham học hỏi, sáng tạo và khéo léo. Từ người dân đến các nghệ nhân, hoạt động sáng tạo, sản xuất vẫn chủ yếu thực hiện thủ công, bằng đôi tay qua các công đoạn như thêu, đan lát, gò, đúc, đục đẽo, nhào nặn, khắc họa… Người làm nghề luôn mong muốn đưa tinh hoa và sự tỉ mỉ vào từng sản phẩm; mỗi sản phẩm, mỗi nhóm sản phẩm đều mang một câu chuyện riêng, khác hẳn với hàng hóa công nghiệp".

Hồn cốt làng nghề- sức mạnh của công nghiệp văn hóa - Ảnh 6.

Tại các phiên chợ, người dân trong làng mang những chồng nón ra sân đình để bày bán. Ảnh: Vân Chi/TTXVN phát

Theo một số thống kê, lao động tại các làng nghề hiện chiếm khoảng 30% lực lượng lao động ở khu vực nông thôn và miền núi. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch xuất khẩu hằng năm đạt khoảng 2 tỷ USD. Những con số này cho thấy hệ thống làng nghề không chỉ tạo việc làm, sinh kế và thu nhập cho hàng triệu người dân mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa đặc sắc, có khả năng chuyển hóa thành các sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN