Cháy rừng rồi sẽ tắt. Mực nước các dòng sông rồi có thể dâng trở lại. Nhưng điều đáng chú ý sau mùa Hè khắc nghiệt năm 2026 ở châu Âu không chỉ là quy mô của thiên tai, mà là một câu hỏi ngày càng khó né tránh: điều gì sẽ xảy ra khi những hiện tượng từng được coi là bất thường thì nay trở thành mối đe dọa an ninh thường trực của mỗi quốc gia?
Cháy rừng rồi sẽ tắt. Mực nước các dòng sông rồi có thể dâng trở lại. Nhưng điều đáng chú ý sau mùa Hè khắc nghiệt năm 2026 ở châu Âu không chỉ là quy mô của thiên tai, mà là một câu hỏi ngày càng khó né tránh: điều gì sẽ xảy ra khi những hiện tượng từng được coi là bất thường thì nay trở thành mối đe dọa an ninh thường trực của mỗi quốc gia?
Câu trả lời cho vấn đề này đang bắt đầu làm thay đổi cách một số nước châu Âu nhìn nhận và đối phó đối với vấn đề biến đổi khí hậu.
Mùa Hè năm nay, cháy rừng đã thiêu rụi hàng chục nghìn hécta tại Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Bồ Đào Nha và Hy Lạp. Cùng lúc, nắng nóng, hạn hán và mực nước xuống thấp trên các dòng sông lớn như Seine, Rhine và Danube gây sức ép đối với nguồn nước, nông nghiệp, giao thông và hoạt động kinh tế.

Khói bốc ngùn ngụt từ đám cháy rừng tại Thessaloniki, Hy Lạp. Ảnh: THX/TTXVN phát
Nếu nhìn riêng từng hiện tượng, đây vẫn là những câu chuyện quen thuộc về thời tiết cực đoan. Nhưng nếu chúng xảy ra đồng thời, kéo dài và tác động qua lại, bản chất của vấn đề đã thay đổi. Một đợt hạn hán không chỉ là thiếu nước. Nó có thể làm giảm sản lượng nông nghiệp, hạn chế vận tải đường sông, ảnh hưởng tới năng lượng và đẩy giá cả lên cao. Một vụ cháy rừng không chỉ là mất rừng. Nó kéo theo chi phí y tế, sơ tán dân cư, bảo hiểm, phục hồi hạ tầng và ngân sách công.
Rủi ro môi trường, khi vượt qua một ngưỡng nhất định, sẽ trở thành rủi ro kinh tế; rủi ro kinh tế có thể trở thành rủi ro xã hội; và rủi ro xã hội kéo dài cuối cùng trở thành vấn đề an ninh. Đó là điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận mà Bỉ đang thử nghiệm. Sau trận lũ lịch sử năm 2021, nước này thành lập Trung tâm Đánh giá rủi ro khí hậu (CERAC), cơ quan có nhiệm vụ đánh giá các rủi ro khí hậu và môi trường và báo cáo trực tiếp với Hội đồng An ninh quốc gia. Tháng 6/2026, Bỉ tiến thêm một bước khi bổ nhiệm Giám đốc CERAC, ông Luc Bas, làm cố vấn của Chính phủ Bỉ về rủi ro hành tinh, có thể hiểu là quốc vụ khanh về các rủi ro do biến đổi khí hậu.
Điều đáng quan tâm không nằm ở tên gọi của chức vụ mà là vị trí của nó trong quá trình ra quyết định. Khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước hay sử dụng đất không còn chỉ được đặt trên bàn của cơ quan phụ trách về tài nguyên môi trường. Những yếu tố đó được kết nối với quyết định về ngân sách, đầu tư, cơ sở hạ tầng, y tế, phát triển kinh tế và chiến lược an ninh.
Đây là một thay đổi nhỏ về tổ chức nhưng lớn về tư duy. Trong mô hình quản trị truyền thống, nhà nước thường được tổ chức theo từng lĩnh vực: môi trường xử lý môi trường, nông nghiệp xử lý nông nghiệp, giao thông xử lý giao thông, quốc phòng và công an xử lý vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, các rủi ro trong thế kỷ XXI ngày càng vượt ra ngoài các ranh giới hành chính truyền thống. Một dòng sông cạn không chỉ là vấn đề môi trường hay giao thông. Một đợt nắng nóng có thể đồng thời gây sức ép cho hệ thống y tế và năng lượng. Tương tự, sự gián đoạn chuỗi cung ứng do thiên tai gây ra thường lan rộng qua nhiều ngành, nhiều địa phương và vượt ra ngoài biên giới quốc gia.

Người dân tránh nóng bên đài phun nước ở Vacsava, Ba Lan. Ảnh: THX/TTXVN phát
Trong khi các rủi ro ngày càng đan xen và tác động trên nhiều lĩnh vực, bộ máy quản lý nhà nước vẫn chủ yếu được tổ chức theo từng ngành riêng biệt. Sự lệch pha này đang trở thành một trong những điểm yếu của quản trị nhà nước hiện đại. Vì thế, ý nghĩa sâu xa của mô hình Bỉ không phải là tạo thêm một chức danh về biến đổi khí hậu, mà đó là nỗ lực tạo ra một đầu mối có khả năng nhìn tổng thể, kết nối những vấn đề mà từng cơ quan riêng lẻ khó nhận ra, từ đó đưa các rủi ro liên ngành vào quá trình hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực quốc gia.
Cách tiếp cận này cũng đang làm thay đổi cách nhìn nhận về chính sách khí hậu. Trong nhiều năm, trọng tâm tranh luận chủ yếu là phải cắt giảm mức phát thải bao nhiêu và với tốc độ như thế nào. Đây vẫn là yêu cầu cốt lõi. Tuy nhiên, khi các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng tác động trực tiếp đến kinh tế và đời sống xã hội, một vấn đề khác cũng trở nên cấp bách: bộ máy nhà nước có đủ năng lực ứng phó và duy trì hoạt động trước những cú sốc ngày càng đan xen, tác động lẫn nhau hay không?
Từ đó, thích ứng với biến đổi khí hậu không còn chỉ là vấn đề xây thêm đê, trồng thêm rừng hay đề ra các mục tiêu giảm phát thải. Vấn đề lớn hơn là làm thế nào để nền kinh tế và xã hội vẫn có thể vận hành ổn định trong điều kiện rủi ro và bất định ngày càng gia tăng. Một cây cầu, nhà máy điện, cảng biển, hồ chứa nước hay khu đô thị mới đều có vòng đời hàng chục năm. Vì vậy, nếu các quyết định đầu tư hôm nay vẫn dựa trên những điều kiện khí hậu của quá khứ, các công trình đó có thể nhanh chóng trở nên không còn phù hợp trước những thay đổi của khí hậu trong tương lai. Khi đó, nguồn lực bỏ ra hiện nay có nguy cơ tạo ra những tài sản kém hiệu quả, thậm chí trở thành gánh nặng về sau. Đó cũng là lý do rủi ro khí hậu ngày càng tiến gần hơn tới khái niệm an ninh quốc gia. Không phải vì khí hậu thay thế những mối đe dọa quân sự truyền thống, mà vì nó có khả năng khuếch đại những điểm yếu vốn đã tồn tại: thiếu nước, mất mùa, giá năng lượng, di cư, bất bình đẳng, gián đoạn chuỗi cung ứng và cạnh tranh tài nguyên. An ninh trong thế kỷ XXI vì thế không chỉ là khả năng bảo vệ biên giới. Đó còn là khả năng giữ cho những hệ thống thiết yếu của quốc gia tiếp tục vận hành khi nhiều cú sốc xảy ra cùng lúc.
An ninh khí hậu cũng đang là vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, quốc gia có đường bờ biển dài, các đồng bằng lớn tập trung dân cư và sản xuất, cùng một nền kinh tế hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế. Hạn hán ở Đồng bằng sông Cửu Long đồng thời là câu chuyện về nước, lương thực, sinh kế và xuất khẩu. Bão lũ miền Trung đồng thời liên quan tới hạ tầng, giao thông, năng lượng và ngân sách. Nước biển dâng không chỉ đặt ra vấn đề môi trường mà còn liên quan tới quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, cảng biển và giá trị của những tài sản được xây dựng cho nhiều thập niên tới.

Không gian vườn và hồ nước tại vườn thực vật chuyên về các loài cây thân gỗ Arboretum de la Vallée-aux-Loups, tỉnh Hauts-de-Seine. Biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu thích ứng để bảo tồn những khu vườn và cảnh quan lịch sử của Pháp. Ảnh: Hữu Chiến - PV TTXVN tại Pháp
Từ câu chuyện của châu Âu, có thể nhận thấy một dự án hạ tầng quan trọng không nên chỉ được đặt vấn đề là có hiệu quả kinh tế hay không, mà còn phải trả lời liệu nó có đứng vững trước điều kiện khí hậu của 20-30 năm tới. Một chiến lược năng lượng không chỉ cần tính cung-cầu, mà phải tính tới nước, nhiệt độ, thiên tai và độ bền của lưới điện. Một kế hoạch phát triển vùng không thể tách khỏi khả năng chịu đựng của hệ sinh thái nuôi sống chính vùng đó. Nói cách khác, bước tiến quan trọng nhất không phải là tạo thêm một cơ quan quản lý rủi ro, mà là đưa tư duy rủi ro vào những nơi đang quyết định vấn đề đầu tư, hạ tầng và tương lai phát triển của đất nước.
Đây cũng là ranh giới giữa quản lý khủng hoảng và quản trị rủi ro. Quản lý khủng hoảng bắt đầu khi thiên tai xảy ra. Quản trị rủi ro bắt đầu nhiều năm trước đó, khi một con đường được thiết kế, một khu đô thị được quy hoạch, một nhà máy được phê duyệt hay một khoản ngân sách được phân bổ.
Mùa Hè khắc nghiệt 2026 rồi sẽ qua. Nhưng nếu những gì châu Âu vừa trải qua thực sự là dấu hiệu của một trạng thái khí hậu mới, câu hỏi quan trọng không còn là khi nào cú sốc tiếp theo sẽ đến. Câu hỏi quan trọng hơn là: trước khi cú sốc ấy đến, bộ máy nhà nước đã nhìn thấy nó trong các quyết định của mình hay chưa?