thethaovanhoa.vn

"9 to 5" - Ca khúc đưa Dolly Parton trở thành siêu sao toàn cầu

Thư Vĩ (tổng hợp) 31/08/2026 13:57 GMT+7

Trong sự nghiệp vô cùng đồ sộ của Dolly Parton, 9 to 5 luôn giữ vị trí vô cùng đặc biệt. Ca khúc chính là lời giới thiệu hoàn hảo về Parton trước thế giới, đưa bà từ "nữ hoàng nhạc đồng quê" thành siêu sao đại chúng.

Trong sự nghiệp vô cùng đồ sộ của Dolly Parton, 9 to 5 luôn giữ vị trí vô cùng đặc biệt. Ca khúc chính là lời giới thiệu hoàn hảo về Parton trước thế giới, đưa bà từ "nữ hoàng nhạc đồng quê" thành siêu sao đại chúng.

Hoàn cảnh ra đời ca khúc cũng cực kỳ thú vị và đậm chất Parton!

Kịch tính hơn cả phim

Một trong những phim hài ăn khách nhất năm 1980 là 9 to 5. Phim xoay quanh câu chuyện dở khóc dở cười của bộ ba nữ nhân viên văn phòng trong nỗ lực cải thiện môi trường làm việc.

9 to 5 mang về doanh thu khổng lồ hơn 100 triệu USD. Theo thời gian, phim được công nhận rộng rãi là tác phẩm kinh điển, được Viện phim Mỹ xếp thứ 74 trong danh sách 100 Bộ phim hài hước nhất.

Hai minh tinh Jane Fonda và Lily Tomlin là những lão làng trong dòng phim kiểu 9 to 5. Nhưng chính người thủ vai nữ nhân viên còn lại, Dolly Parton - trước đó chưa từng đóng phim - lại thu hút nhiều sự chú ý nhất.

"9 to 5" - Ca khúc đưa Dolly Parton trở thành siêu sao toàn cầu - Ảnh 1.

Bìa đĩa đơn “9 to 5” của Dolly Parton

Thú vị, ở cuối phim, nhân vật của Parton được tiết lộ là đã xin nghỉ việc để trở thành ca sĩ nhạc đồng quê. Trong khi đó, ngoài đời, bà vốn đã là một trong những ngôi sao nhạc đồng quê lớn nhất nước Mỹ.

Thế nên, có thể nói: 9 to 5 là phim giải trí thú vị, nhưng xuất phát điểm thực sự của Dolly Parton nhiều khi còn kịch tính hơn cả phim!

Bà đúng chuẩn là huyền thoại kiểu Mỹ: Một cô bé sinh ra trong căn nhà gỗ nghèo nàn 1 phòng ở vùng núi phía Đông Tennessee. Bố bà là một nông dân không biết chữ và trong nhà có tới 12 người con!

Lớn lên trong nghèo khó cùng cực nhưng Parton nhiều lần chia sẻ rằng gia đình mình luôn biết cách tìm thấy niềm vui giữa nghịch cảnh. Là một đứa trẻ tài năng, bà đã biểu diễn trên đài phát thanh lúc 10 tuổi và lên sóng Grand Ole Opry - "thánh đường" đồng quê Mỹ - năm 13 tuổi.

Bà chuyển đến Nashville ngay sau ngày tốt nghiệp cấp 3 và bắt đầu viết nhạc cho nhiều ngôi sao nhạc đồng quê thời đó. Bà cũng ký hợp đồng với hãng đĩa Monument và thu âm loạt đĩa đơn mang phong cách nhóm nhạc nữ.

Có điều, Parton muốn theo đuổi nhạc đồng quê. Thế nhưng, hãng đĩa lại cho rằng bà hợp làm nghệ sĩ pop hơn. Rốt cuộc, cả Parton lẫn hãng đĩa đều đã đúng.

Dolly Parton đã sáng tác "9 to 5" ngay trên phim trường bằng cách gõ móng tay vào nhau.

Năm 1967, Parton mới 21 tuổi đã gia nhập dàn nghệ sĩ của chương trình tạp kỹ đình đám The Porter Wagoner Show và có cơ hội chứng minh mình thực sự thuộc về thế giới nhạc đồng quê. Ban đầu, khán giả không quá mặn mà với bà. Thế nhưng, tài năng nổi bật của Parton đã nhanh chóng chinh phục hết thảy và đưa bà trở thành gương mặt nổi bật của chương trình. Chưa đầy 2 năm sau, bà đã tự thành lập công ty xuất bản âm nhạc riêng.

Năm 1970, Parton có hit quán quân đầu tiên trên BXH nhạc đồng quê. Nhưng bà mất nhiều thời gian hơn để lấn sân sang nhạc pop.

Các đĩa nhạc thời kỳ đầu của Parton đều rất tuyệt vời nhưng thuần tuý chất đồng quê - vốn khó được các đài phát thanh chuyên phát nhạc thịnh hành chấp nhận. Nhưng không gì làm khó được Parton. Trong đúng 1 ngày vào năm 1973, bà đã sáng tác ra cả Jolene - ca khúc hoàn hảo đến kinh ngạc - và siêu hit mọi thời đại I Will Always Love You. Và Jolene chính là ca khúc đầu tiên của bà lọt vào Billboard Hot 100, ở No.60.

Rồi tới cuối những năm 1970, bà càng dồn sức nhằm bứt phá khỏi cái mác đồng quê để tiến sâu vào các BXH pop. Và sau đó là thành ngôi sao điện ảnh.

Sáng tác trên phim trường

Jane Fonda là người nảy ra ý tưởng cho bộ phim 9 to 5. Cũng chính bà đã đề xuất giao vai cho Dolly Parton. Nhân vật này thậm chí được đo ni đóng giày riêng cho siêu sao đồng quê.

Parton đồng ý đóng phim với điều kiện bà được thể hiện ca khúc chủ đề. Sau này, bà rất thích kể lại câu chuyện mình đã sáng tác ca khúc đó, 9 to 5, ngay trên phim trường ra sao: bằng cách gõ những chiếc móng tay giả acrylic vào nhau!

Sáng tác xong, bà liền hát ca khúc đó cho Fonda và Tomlin nghe khi họ vẫn đang ghi hình, và cả hai đều hết sức sửng sốt. Fonda đặc biệt phấn khích vì biết bộ phim sẽ dễ thành công hơn nhiều khi có một ca khúc như thế.

"9 to 5" - Ca khúc đưa Dolly Parton trở thành siêu sao toàn cầu - Ảnh 3.

Dolly Parton qua đời khi vẫn đang ấp ủ nhiều dự án thú vị

Có thể nói, 9 to 5 là nước đi khôn ngoan và sắc bén trong sự nghiệp của Parton. Nó sôi động, đầy năng lượng, với nhịp điệu dồn dập tạo nên sự kết nối hoàn hảo với bộ phim. Những âm thanh lách cách và tiếng chuông gợi nhớ đến tiếng máy đánh chữ của các thư ký nhưng đồng thời cũng phảng phất chút âm hưởng sôi động của nhạc disco.

Xét về thể loại, 9 to 5 nằm ở vùng đệm khó định danh, pha trộn nhiều phong cách. Ca khúc có những đoạn kèn đồng rộn rã, tiếng đàn piano mang âm hưởng blues và tiếng guitar tinh nghịch. Cuối bài còn có tiếng kèn saxophone đầy hứng khởi.

Nó không hẳn là disco hay R&B, nhưng cũng chẳng hoàn toàn là nhạc đồng quê. Nó chính xác là nước đi nhạc pop tính toán kỹ lưỡng, cân bằng mọi yếu tố từ một nhạc sĩ đang nỗ lực hết mình để chinh phục thế giới âm nhạc đại chúng.

Giống như cuộc đời mình, Parton thể hiện 9 to 5 với sự phấn khích tột độ, đầy say mê dù ca từ có phần than trách. Phong thái tươi vui, cuốn hút này là một trong những đặc trưng hiếm có của Parton trong suốt sự nghiệp và trong trường hợp này, đã tạo được bầu không khí hoàn hảo cho bộ phim.

Vươn tầm danh tiếng

Nhưng thành công của 9 to 5 còn vượt xa vai trò nhạc phim. Ca khúc không chỉ truyền tải được trọn vẹn tinh thần của bộ phim mà còn khắc họa rõ nét con người Parton - cả trong phim lẫn ngoài đời thực - giúp khán giả đại chúng biết hầu hết những điều cần biết về bà chỉ trong chưa đầy 3 phút. Nó là bàn đạp để cả bộ phim lẫn sự nghiệp của Parton cất cánh.

Được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào tháng 11/1980, tới đầu năm 1981, 9 to 5 đã đứng No.1 trên cả Billboard Hot 100, Ca khúc đồng quê hot và Nhạc đương đại cho người trưởng thành. Nói cách khác, Parton đã cùng một lúc thống trị cả nhạc đồng quê lẫn nhạc pop đại chúng.

9 to 5 cũng là ca khúc solo duy nhất của bà từng đứng đầu Hot 100. Đáng chú ý hơn, trước Parton, chỉ có một nữ nghệ sĩ khác trong lịch sử có ca khúc cùng đạt No.1 trên cả BXH đồng quê lẫn Hot 100.

Chưa hết, với 9 to 5, Parton còn nhận đề cử Ca khúc gốc xuất sắc nhất tại Oscar năm 1981 và 3 đề cử Grammy (bao gồm hạng mục Ca khúc của năm và bà đã giành chiến thắng ở hạng mục Ca khúc đồng quê hay nhất và Màn trình diễn giọng nhạc đồng quê nữ xuất sắc nhất).

Trong thời gian dài, 9 to 5 còn là "bài hát quốc dân" với giới nhân viên văn phòng tại Mỹ. Vào năm 2004, ca khúc xếp thứ 78 trong danh sách 100 năm 100 ca khúc do Viện Phim Mỹ bình chọn.

Không chỉ giới hạn ở Mỹ, trên thế giới, 9 to 5 còn đứng đầu BXH đĩa đơn Canada và lọt Top 10 tại hàng loạt thị trường như Áo, Bỉ, Thụy Điển, Nam Phi, Australia và New Zealand.

Có thể nói, với 9 to 5, Parton đã chính thức từ "nữ hoàng nhạc đồng quê" thành siêu sao đại chúng, được cả thế giới yêu mến cho tới tận cuối đời.

Tưởng niệm Dolly Parton

Ngày 25/8/2026 vừa qua, sau thời gian ngắn chống chọi với bệnh ung thư, Dolly Parton đã ra đi mãi mãi. Mỹ đã hạ quốc kỳ 1 tuần để tưởng niệm bà. Nhưng vẫn giữ đúng tinh thần lạc quan của Parton, khắp nơi trên thế giới, nhiều toà nhà đã thắp đèn màu hồng yêu thích của bà và mọi người hát 9 to 5 để tiễn biệt bà.

Những ngày cuối đời, Parton vẫn năng nổ làm việc. Bà vừa phát hành nhạc mới hồi tháng 1. Bà còn mở cửa hàng mới, tham gia các hoạt động của công viên giải trí Dollywood và công bố kế hoạch cho một bảo tàng mới về cuộc đời mình.

Đặc biệt, bà đang thực hiện Dolly: A True Original Musical - vở nhạc kịch kể chính cuộc đời và sự nghiệp của bà, dự kiến diễn tại Broadway trong năm 2026. Giờ đây, những kế hoạch ấy nhiều khả năng sẽ tiếp tục được thực hiện sau khi người khởi xướng không còn nữa. Có lẽ đó là cách đẹp nhất để một nghệ sĩ như Parton tiếp tục hiện diện: bằng những câu chuyện, giai điệu và giấc mơ mà bà để lại.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN