thethaovanhoa.vn

Tháo gỡ "điểm nghẽn" trong chuyển đổi số tại bảo tàng (kỳ 1): Để số hóa bảo tàng đi vào chiều sâu

Công Bắc 27/08/2026 06:24 GMT+7

Tháo gỡ các "điểm nghẽn" về chuyển đổi số đang là yêu cầu đặt ra nhằm tạo chuyển biến thực chất trong lĩnh vực văn hóa.

Tháo gỡ các "điểm nghẽn" về chuyển đổi số đang là yêu cầu đặt ra nhằm tạo chuyển biến thực chất trong lĩnh vực văn hóa. Và ở lĩnh vực bảo tàng, lộ trình này không chỉ dừng ở tạo lập dữ liệu hiện vật, mà hướng tới đổi mới toàn diện từ phương thức quản lý, bảo tồn, liên thông dữ liệu đến trưng bày, giáo dục và nâng cao trải nghiệm công chúng.

Yêu cầu này gắn với  một thực tế: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là 1 trong những đột phá quan trọng hiện nay. Trong đó, chuyển đổi số đang được đẩy mạnh bằng những chương trình hành động cụ thể, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn và tạo chuyển biến thực chất trong từng ngành, từng lĩnh vực.

Từ những định hướng chiến lược

Theo đó, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với tên gọi "Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số" được xem là bước kích hoạt mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Kế hoạch đặt ra 100 ngày xử lý các điểm nghẽn, đồng thời yêu cầu hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng và dịch vụ số, sản phẩm phải vận hành được, có dữ liệu, có người sử dụng thực tế và bước đầu phát huy hiệu quả.

Thực hiện kế hoạch này, Bộ VH,TT&DL đã ban hành Kế hoạch số 4437/KH-BVHTTDL về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Kế hoạch tập trung vào các nhóm vấn đề về hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực…

Tháo gỡ "điểm nghẽn" trong chuyển đổi số tại bảo tàng (kỳ 1): Để số hóa bảo tàng đi vào chiều sâu - Ảnh 1.

Trải nghiệm VR “xuyên không” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: Lê Đông - TTXVN

Việc nhanh chóng cụ thể hóa nhiệm vụ cho thấy tính cấp thiết của chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, nơi dữ liệu được hình thành tại nhiều đơn vị, thiết chế, từ di sản, bảo tàng, thư viện đến nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật… Yêu cầu đặt ra không chỉ là số hóa tư liệu, mà còn phải chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu trên hạ tầng dùng chung, khắc phục tình trạng phân tán và vận hành biệt lập.

Yêu cầu này cũng gắn với định hướng phát triển văn hóa trong Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị. Nghị quyết xác định một nhiệm vụ trọng tâm là: "Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hoá".

Cụ thể, Nghị quyết yêu cầu: "Chủ động thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển văn hoá. Xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hoá quốc gia, nền tảng số dùng chung bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển nội dung số, hạ tầng văn hoá số Việt Nam. Chuẩn hoá và số hoá toàn diện di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao; quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hoá số".

Nghị quyết cũng định hướng: "Phát triển hạ tầng số, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ thực tế ảo (Blockchain)… trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng văn hóa và quản lý văn hóa. Xây dựng thiết chế "văn hóa số", "bảo tàng mở", "nhà hát di động", "thư viện số" thân thiện với mọi lứa tuổi".

Chuyển đổi số cũng được gắn trực tiếp với quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân. Nghị quyết nêu rõ: "Xây dựng và vận hành nền tảng văn hóa số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân".

Tháo gỡ "điểm nghẽn" trong chuyển đổi số tại bảo tàng (kỳ 1): Để số hóa bảo tàng đi vào chiều sâu - Ảnh 2.

Trình chiếu kỹ thuật 3D mapping tại trưng bày chuyên đề ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

Từ những định hướng này có thể thấy rõ bảo tàng không chỉ là đối tượng của số hóa, mà còn là thiết chế trực tiếp kết nối dữ liệu di sản với công chúng. Yêu cầu xây dựng "bảo tàng mở", phát triển dịch vụ "bảo tàng số" cho thấy chuyển đổi số phải đồng thời hiện đại hóa hoạt động quản lý, bảo tồn và mở rộng quyền tiếp cận văn hóa. Vì vậy, trọng tâm không dừng ở việc tạo bản sao số của hiện vật, mà phải chuẩn hóa, liên thông dữ liệu, đổi mới trưng bày, giáo dục và đưa tri thức di sản phục vụ xã hội.

Đưa số hóa bảo tàng đi vào thực chất

Trong quá trình đưa các định hướng chiến lược vào thực tiễn, một bước đi cụ thể nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong bảo tàng đi vào thực chất là việc phê duyệt Đề án "Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, Đề án có nhiều nội dung mang tính xác lập lộ trình chuyển đổi số trong bảo tàng một cách đồng bộ, từ hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu đến phát triển mô hình bảo tàng thông minh, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng.

"Số hóa bảo tàng là một quá trình tái cấu trúc toàn diện dựa trên dữ liệu và công nghệ số nhằm thay đổi phương thức vận hành, quản trị và đặc biệt là cách thức kết nối với công chúng".

Cụ thể, Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2030: "100% hệ thống Thư viện quốc gia, Bảo tàng quốc gia về lịch sử và văn hóa, các bảo tàng công lập tập trung triển khai hoàn thiện Thư viện số, Bảo tàng số, phát triển mô hình thư viện, bảo tàng thông minh, đồng thời mở rộng tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong mạng lưới thư viện, bảo tàng Việt Nam và quốc tế". Đề án cũng đặt mục tiêu ít nhất 70% bảo tàng cùng các thiết chế, đơn vị văn hóa có dữ liệu được chia sẻ, kết nối với hạ tầng dữ liệu dùng chung của Bộ VH,TT&DL.

Để đạt được mục tiêu này, Đề án đưa ra nhiệm vụ: "Xây dựng phiên bản số cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia, hướng tới hình thành trung tâm bảo tồn và bảo quản số quốc gia có chức năng sưu tầm, lưu trữ, phục dựng, trưng bày và phổ biến tri thức lịch sử - văn hóa dân tộc bằng công nghệ số hiện đại, giữ vai trò hạt nhân kết nối và chia sẻ dữ liệu, nội dung số với hệ thống bảo tàng, trung tâm lưu trữ và cơ sở văn hóa - giáo dục trong nước, khu vực và quốc tế; thực hiện nâng cấp và đầu tư phát triển hệ thống quản lý, cơ sở dữ liệu của các bảo tàng công lập bảo đảm liên thông, đồng bộ, an toàn và mở".

Việc xây dựng phiên bản số cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia không chỉ hướng tới số hóa một thiết chế cụ thể, mà còn tạo một hạt nhân kết nối cho toàn hệ thống. Trong mô hình này, dữ liệu từ các bảo tàng công lập được tổ chức trên những tiêu chuẩn thống nhất, có khả năng chia sẻ với cơ quan lưu trữ, nghiên cứu và giáo dục. Đây là điều kiện để từng hiện vật không tồn tại như một đơn vị thông tin biệt lập, mà trở thành một phần của mạng lưới tri thức về lịch sử, văn hóa dân tộc.

Trên nền tảng dữ liệu đó, Đề án yêu cầu: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong số hóa hiện vật, trưng bày tương tác, giáo dục trải nghiệm và du lịch văn hóa số; đa dạng hóa nội dung, hình thức trưng bày; phát triển các bộ sưu tập số tương tác và các mô hình kinh tế sáng tạo trong lĩnh vực bảo tàng và di sản, góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa và quảng bá văn hóa Việt Nam trên không gian số"; đồng thời đặt ra nhiệm vụ: "Phát triển hệ thống tham quan trực tuyến, vé điện tử và hệ thống hướng dẫn tự động đa ngôn ngữ nhằm mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng đối với di sản văn hóa và bảo tàng".

Tháo gỡ "điểm nghẽn" trong chuyển đổi số tại bảo tàng (kỳ 1): Để số hóa bảo tàng đi vào chiều sâu - Ảnh 4.

Không gian triển lãm mỹ thuật trực tuyến trên website của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Rõ ràng, những định hướng này cho thấy chuyển đổi số trong bảo tàng phải được nhìn nhận như một quá trình đổi mới toàn diện phương thức quản lý, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản. Hiệu quả không chỉ được đo bằng khối lượng hiện vật đã số hóa hay số lượng công nghệ được ứng dụng, mà bằng khả năng liên thông dữ liệu, nâng cao chất lượng hoạt động và mở rộng sự tiếp cận của công chúng. Đây là điều kiện quan trọng để bảo tàng phát huy đầy đủ vai trò của một thiết chế tri thức, giáo dục và sáng tạo trong hệ sinh thái văn hóa số.

Theo nghiên cứu của TS Trần Thu Minh cùng các cộng sự (Trường Đại học Ngoại thương), dưới tác động của công nghệ số, cách công chúng tiếp cận di sản văn hóa đang thay đổi mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu tái định vị vai trò của bảo tàng từ không gian trưng bày tĩnh sang nền tảng trải nghiệm đa chiều và tương tác. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà trở thành động lực cốt lõi để tái cấu trúc trải nghiệm công chúng tại bảo tàng.

Theo nhóm nghiên cứu, chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo tàng không đơn thuần là việc trang bị các thiết bị công nghệ hay số hóa bộ sưu tập hiện vật. Từ quan điểm hiện đại, đây là một quá trình tái cấu trúc toàn diện dựa trên dữ liệu và công nghệ số nhằm thay đổi phương thức vận hành, quản trị và đặc biệt là cách thức kết nối với công chúng.

Quá trình này diễn ra qua 3 cấp độ chính: Số hóa thông tin - chuyển đổi các tư liệu, hiện vật từ dạng vật lý sang định dạng số (hình ảnh 2D/3D, video, tài liệu số); số hóa quy trình - ứng dụng công nghệ để cải thiện các quy trình nghiệp vụ như quản lý kho, thuyết minh tự động hay truyền thông trực tuyến; chuyển đổi số toàn diện - tận dụng dữ liệu và công nghệ để tạo ra các mô hình trải nghiệm mới, thay đổi căn bản tư duy tiếp cận di sản của công chúng.

Cách phân cấp này cho thấy chuyển đổi số chỉ thực sự đi vào chiều sâu khi bảo tàng vượt khỏi việc tạo lập các bản sao số để đổi mới toàn bộ phương thức vận hành và quan hệ với công chúng.

Khi dữ liệu hiện vật được kết nối với hoạt động quản lý, trưng bày, giáo dục và trải nghiệm, công nghệ mới trở thành phương tiện phát huy giá trị di sản, đưa người xem từ vị trí tiếp nhận thụ động trở thành chủ thể tham gia, khám phá và lan tỏa tri thức văn hóa. Đây cũng là thước đo thực chất của số hóa bảo tàng, góp phần hiện thực hóa yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo động lực mới cho phát triển văn hóa.

(Còn tiếp)

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN