Thành bại trong giới nhạc pop không phải điều dễ đoán. Đôi khi ranh giới giữa 1 ca khúc bị bỏ qua và 1 bản hit lừng lẫy toàn cầu chỉ nằm ở việc nó có tìm được đúng người để cất tiếng hát hay không.
Thành bại trong giới nhạc pop không phải điều dễ đoán. Đôi khi ranh giới giữa 1 ca khúc bị bỏ qua và 1 bản hit lừng lẫy toàn cầu chỉ nằm ở việc nó có tìm được đúng người để cất tiếng hát hay không.
Đó chính là trường hợp đã xảy ra với Bleeding Love (Yêu hết lòng).
Quán quân The X Factor
Năm 2004, chương trình truyền hình The X Factor ra đời tại Anh. Nó cực kỳ thành công khi dễ dàng đưa các quán quân lên đứng đầu BXH Vương quốc Anh, kể cả khi phong cách của họ khá mờ nhạt. Nhưng Leona Lewis - quán quân mùa 3 - là 1 trường hợp hoàn toàn khác.
Leona Lewis sinh năm 1985 tại London và bắt đầu ca hát từ khi còn nhỏ. Cha mẹ cũng rất tạo điều kiện khi cho cô theo học tại nhiều trường nghệ thuật biểu diễn khác nhau. Khi còn ở tuổi thiếu niên, cô cũng từng làm người mẫu và tham gia diễn xuất trong một vài vở nhạc kịch tại khu West End.

Leona Lewis trên bìa đĩa “Bleeding Love”
Sau khi rời ghế nhà trường, Lewis làm nhiều công việc chân tay khác nhau để nuôi đam mê âm nhạc. Cô ký được hợp đồng với 2 công ty sản xuất khác nhau và thu âm các bản demo cho 2 album, nhưng cuối cùng, những bản thu này không giúp cô có được hợp đồng thu âm chính thức nào.
Cuối cùng, Lewis quyết định thử sức với The X Factor. Vì từng giành chiến thắng trong 1 cuộc thi hát karaoke cấp quốc gia, cô tin rằng mình có thể làm nên chuyện trên sóng truyền hình. Và cô đã đúng.
Sở trường của Lewis là dòng nhạc R&B mang hơi hướng pop, đòi hỏi kỹ thuật thanh nhạc điêu luyện và khả năng trình diễn ấn tượng. Lối hát luyến láy, phô diễn kỹ thuật thanh nhạc dày đặc như vậy đã dần mất đi sức hút trên các BXH nhạc pop vào cuối thập niên 2000, nhưng trong khuôn khổ 1 chương trình tìm kiếm tài năng ca hát, phong cách này lại trở nên nổi bật.
Lewis có thể thể hiện các hit kinh điển của những giọng ca vĩ đại bậc nhất mọi thời đại mà không hề bị lép vế hay gây thất vọng. Với chất giọng trời phú, cô dễ dàng vượt qua các vòng thi và giành vị trí quán quân.
Khi mùa giải kết thúc, cô chỉ hát lại ca khúc A Moment Like This thôi mà nó đã vươn lên No.1 tại Anh vào dịp Giáng sinh năm 2006 rồi giữ vững ngôi đầu bảng trong suốt 4 tuần lễ.
Ca khúc bị từ chối
Tài năng và sức hút của Leona Lewis nhanh chóng nhận được sự chú ý của những người có ảnh hưởng trong ngành công nghiệp âm nhạc. Cô được đưa tới Los Angeles để giới thiệu với một số nhạc sĩ và nhà sản xuất. Một trong số đó là Ryan Tedder.
Tedder hiện là nghệ sĩ, nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất danh tiếng, nhưng thời điểm gặp Lewis vào năm 2007, anh vẫn đang loay hoay tìm chỗ đứng trong ngành. Tedder chủ yếu tìm kiếm cơ hội bằng việc sáng tác cho các nghệ sĩ khác. Chính trong giai đoạn này, anh gặp Jesse McCartney và cùng nam ca sĩ trẻ viết nên Bleeding Love.
McCartney từng là thần tượng tuổi teen khá nổi tiếng. Anh bắt đầu sự nghiệp với vai trò diễn viên nhí, tham gia nhóm nhạc nam rồi phát hành album đầu tay khi mới 17 tuổi. Album đạt chứng nhận bạch kim, giúp anh có được chỗ đứng nhất định trong thị trường nhạc pop dành cho giới trẻ.
Nhưng McCartney chưa bao giờ có được hit thực sự khổng lồ. Trớ trêu thay, khi xuất hiện ca khúc có khả năng mang lại cho anh thành công ấy, anh lại buông tay.
Theo đó, trong quá trình thực hiện album thứ 3 của mình, McCartney đã hợp tác với Tedder để viết 1 ca khúc về tình yêu da diết. Cả 2 khi đó đều có những nỗi niềm khắc khoải yêu đương nên dễ đồng cảm và nhanh chóng viết nên Bleeding Love.
Thế nhưng, bộ phận phụ trách tìm kiếm và phát triển nghệ sĩ của McCartney không tin Bleeding Love có khả năng trở thành hit. Ca khúc thậm chí không được đưa vào album và Tedder được phép mang nó đi tìm giọng ca khác. Người Tedder tìm đến chính là Leona Lewis.

Ryan Tedder (phải) và Jesse McCartney cùng nhận giải Ca khúc của năm cho “Bleeding Love” tại giải Âm nhạc Pop của Hiệp hội các Nhà soạn nhạc, Tác giả và Nhà xuất bản Mỹ năm 2009
Có những quyết định tình cờ lại làm thay đổi cả 1 đời người. Trong trường hợp này, đây là quyết định đã làm thay đổi sự nghiệp của cả 3 người Tedder, McCartney và nhất là Lewis.
Nếu McCartney tự phát hành Bleeding Love, không ai chắc ca khúc sẽ thành công tới mức nào. Nhưng khi đến với Lewis, nó nhanh chóng biến 1 quán quân truyền hình còn tương đối xa lạ với khán giả quốc tế thành ngôi sao toàn cầu. McCartney vẫn được hưởng tiền bản quyền với tư cách đồng tác giả nhưng thành công phi thường của ca khúc cũng khiến câu chuyện của anh trở thành một trong những trường hợp "suýt có siêu hit" rất đáng tiếc của nhạc pop.
Thành công không tưởng
Leona Lewis lập tức phải lòng Bleeding Love khi nghe bản demo do McCartney hát. Cô cứ nghe đi nghe lại và rất ấn tượng khi Tedder "có khả năng viết nhạc hệt như 1 cô gái tuổi teen vậy"!
Tedder cũng trực tiếp sản xuất phiên bản của Lewis và gần như tự mình xây dựng toàn bộ phần nhạc. Anh kết hợp tiếng organ mang âm hưởng nhà thờ, đàn dây tổng hợp, keyboard ngân vang, những tiếng guitar lách tách như mã Morse và phần trống điện tử để tạo nên 1 bản ballad hoành tráng, đầy kịch tính và phô diễn kỹ thuật, nhưng cũng sở hữu tiết tấu đủ mạnh mẽ để không trở nên quá ủy mị hay sướt mướt.
Có thể nói, Bleeding Love đã được sản xuất hoàn hảo và đặc biệt phù hợp với Lewis. Lewis vốn luôn là giọng ca đầy uy lực, nhưng âm nhạc của cô đôi khi lại thiếu đi cá tính riêng biệt. Với Bleeding Love, Lewis không chỉ thoả sức phô diễn những đoạn luyến láy tuyệt đỉnh mà còn có thể lắng đọng, đi sâu vào cảm xúc đôi lứa.
Trùng hợp là Lewis cũng vừa trải qua cuộc tình buồn ngay trước khi thu âm Bleeding Love. Vì vậy, cô có thể tìm thấy trong ca khúc những cảm xúc rất gần với mình. Thế nên, thay vì đơn thuần khoe giọng hát nội lực, cô như thể đang dốc hết tâm can.
Vốn dĩ người ta rất dễ có cái nhìn hoài nghi về 1 ca khúc như Bleeding Love. Nó đích thị là sản phẩm của dây chuyền công nghiệp tạo hit: được sáng tác bởi các chuyên gia và thể hiện bởi quán quân 1 chương trình truyền hình thực tế. Nhưng cuối cùng, bằng tài hoa và tâm huyết, McCartney, Tedder và đặc biệt là Lewis đã mang tới 1 tuyệt phẩm làm lay động lòng người.
Sau đó là cả chiến dịch quảng bá mạnh mẽ tại Mỹ. Lewis xuất hiện trên hàng loạt chương trình truyền hình lớn và Bleeding Love nhanh chóng tạo nên cơn sốt toàn cầu.
Bleeding Love đứng đầu BXH ở tận 35 quốc gia! Theo Kỷ lục Guinness Thế giới, đây là ca khúc đầu tiên đạt No.1 ở nhiều thị trường đến vậy kể từ sau đĩa đơn năm 1997 của Elton John. Thật sự không tưởng!
Tại Mỹ, không chỉ đứng đầu Billboard Hot 100, Bleeding Love còn là ca khúc kỹ thuật số bán chạy nhất năm 2008 và được xếp hạng là ca khúc thành công thứ 17 trong thập niên 2000. Ở quê nhà, Bleeding Love bán được hơn 1 triệu bản và lọt BXH đĩa đơn trong 3 năm khác nhau: quán quân năm 2007, No.76 năm 2008 và No.97 năm 2009.
Không chỉ được khán giả ưa chuộng, Bleeding Love còn được giới phê bình đánh giá rất cao. Ca khúc được đề cử tại 2 hạng mục Bản thu âm của năm và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất tại Grammy 2009. Nó cũng nhận được đề cử cho hạng mục Đĩa đơn Anh hay nhất tại giải Brit danh giá năm 2008.
Ca khúc còn tạo bệ phóng cho album mẹ. Album này đạt chứng nhận bạch kim tới 9 lần ở Anh. Cả album lẫn ca khúc cũng đạt chứng nhận bạch kim ở Mỹ. Với Lewis, có thể nói, sự nghiệp của cô đã hoàn toàn cất cánh nhờ Bleeding Love.
Sau thành công của "Bleeding Love"
Trong 1 buổi phỏng vấn năm 2022, Leona Lewis đã nhìn lại những tác động của Bleeding Love với sự nghiệp của mình. Theo đó, 1 năm sau khi thắng The X Factor, cô đã sợ "mọi người có thể sẽ quên mất mình". Nhưng Bleeding Love đã mang tới cho cô thành công "lớn tới mức tôi không thể diễn tả". Sau đó, Lewis tiếp tục có nhiều ca khúc ăn khách tại Anh, dù tại Mỹ, cô không còn tái lập được thành tích No.1 của bản hit này.
Với Ryan Tedder, Bleeding Love đã giúp tên tuổi anh vang xa, mở đường cho anh trở thành một trong những nhạc sĩ và nhà sản xuất nhạc pop sung sức nhất thế kỷ XXI. Về McCartney, anh cũng thu âm phiên bản Bleeding Love của riêng mình nhưng ca khúc khi đó đã gắn chặt với Lewis. Hiện anh vẫn tiếp tục ca hát và diễn xuất nhưng không đạt được thành công quốc tế ở quy mô tương tự ca khúc mà anh từng bỏ qua.