Dù chuẩn mực con người Việt Nam đã được xác lập ngày càng rõ về nội hàm, song quá trình đưa các giá trị này thấm sâu vào đời sống vẫn cần một sự đồng bộ và sự quyết tâm cao độ.
Dù chuẩn mực con người Việt Nam đã được xác lập ngày càng rõ về nội hàm, song quá trình đưa các giá trị này thấm sâu vào đời sống vẫn cần một sự đồng bộ và sự quyết tâm cao độ.
Điển hình, theo nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Kim Liên (Học viện Chính trị khu vực II) và ThS Lâm Ái Chinh (Trường Chính trị thành phố Cần Thơ), có 3 nút thắt lớn đang kìm hãm quá trình thẩm thấu của các hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam. Đó là sự đứt gãy thế hệ trong trao truyền các giá trị nền tảng; sự xói mòn chuẩn mực từ các nền tảng số xuyên biên giới; và sự thiếu hụt cơ chế thể chế hóa và nguồn lực tài chính tương xứng.
Những "nút thắt" cần tháo gỡ
Theo các chuyên gia này ở nút thắt thứ nhất, dù ghi nhận những tín hiệu tích cực, thực tế cho thấy quá trình truyền tải hệ giá trị từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng đang gặp khó khăn. Theo dẫn chứng, một cuộc điều tra xã hội học quy mô quốc gia do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2025 đã chỉ ra một khoảng cách nhận thức rõ rệt: Có tới 62% người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) cho rằng "thế hệ trẻ ngày nay ít coi trọng các giá trị gia đình truyền thống như thủy chung, hiếu thảo", nhưng tỷ lệ đồng ý với nhận định này ở nhóm người trẻ (18-30 tuổi) chỉ là 28%.
Các nghiên cứu định tính đi kèm cho thấy nguyên nhân sâu xa nằm ở sự suy giảm thời lượng và chất lượng tương tác trực tiếp trong gia đình.

Xin chữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám - truyền thống được nhiều thí sinh và phụ huynh mong chờ. Ảnh: TTXVN
Bện cạnh đó, theo nhóm nghiên cứu, nút thắt thứ hai đến từ môi trường số toàn cầu. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã thẳng thắn cảnh báo về điều này: "Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hoá gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc".
Trong thực tế, khảo sát của Bộ Thông tin và Truyền thông (2025) trên 5.000 thanh thiếu niên từ 12 - 22 tuổi cho thấy thời gian sử dụng mạng xã hội và nền tảng video trực tuyến trung bình đạt 6,2 giờ/ngày, trong đó 41% nội dung được tiêu thụ có nguồn gốc từ nước ngoài và thường xuyên chứa các thông điệp lệch chuẩn như bạo lực học đường, lối sống hưởng thụ, coi thường các mối quan hệ gia đình. Đáng nói là các thuật toán đề xuất của những nền tảng này có xu hướng ưu tiên nội dung gây sốc, vi phạm chuẩn mực vì chúng tạo ra tương tác cao.
Trong khi đó, nút thắt thứ ba nằm ở việc thiếu một hành lang pháp lý đủ mạnh và nguồn lực tài chính đủ lớn để tháo gỡ những nút thắt đang tồn tại.
Thực tế, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu "bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá", một mức được kỳ vọng tạo ra đột phá. Tuy nhiên, đối chiếu với số liệu thực hiện giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ chi thực tế chỉ dao động trong khoảng 1,2 - 1,4%, nghĩa là vẫn còn cách xa mục tiêu.
Bên cạnh vấn đề tài chính, theo các chuyên gia, là sự thiếu vắng một bộ chỉ số đánh giá mức độ thẩm thấu của hệ giá trị. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công cụ nào đo lường một cách có hệ thống tỷ lệ người dân có thể kể tên ít nhất 5 trong 8 chuẩn mực, hay tần suất các hành vi vi phạm đạo đức công vụ, hay chỉ số gắn kết gia đình.
Theo nhóm nghiên cứu, 3 nút thắt kể trên cho thấy một bức tranh toàn cảnh về những rào cản chính đang cản trở việc phát huy hệ giá trị con người Việt Nam. Dù nằm ở những cấp độ khác nhau (gia đình - truyền thông - nhà nước), chúng lại có sự tương tác và cộng hưởng. Chẳng hạn, sự đứt gãy trong gia đình khiến giới trẻ tìm kiếm các mô hình giá trị thay thế trên mạng xã hội (nút thắt thứ hai), trong khi thiếu nguồn lực nhà nước để sản xuất nội dung số lành mạnh khiến họ càng dễ bị tổn thương hơn.
Từ thực tế này, nhóm nghiên cứu đề xuất một gói giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ các nút thắt và phát huy hệ giá trị con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, với thứ tự ưu tiên rõ ràng: Thể chế hóa và tài chính trước, sau đó tái cấu trúc giáo dục gia đình - nhà trường, và song song đó xây dựng sức đề kháng văn hóa số.
Thiết lập một cơ chế triển khai đồng bộ
Những tồn tại cho thấy, để các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống, cần phải thiết lập được một cơ chế triển khai đồng bộ, có tiêu chí cụ thể, sự phân công trách nhiệm, công cụ đánh giá và nguồn lực thực hiện.
Trong bối cảnh đó, Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, ban hành theo Quyết định 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ, được kỳ vọng tạo lập một cơ chế hành động thống nhất, đưa các giá trị từ định hướng lý luận trở thành những chuẩn mực được thực hành, kiểm chứng và lan tỏa trong đời sống xã hội.

Các em nhỏ tại Khu Di tích quốc gia đặc biệt Kim Liên (Nghệ An). Ảnh: TTXVN
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Kế hoạch là đặt hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong một chỉnh thể thống nhất, có quan hệ tác động, bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, con người vừa là chủ thể thực hành, lan tỏa các giá trị, vừa là mục tiêu của sự phát triển; gia đình là môi trường đầu tiên hình thành nhân cách; văn hóa tạo môi trường để các giá trị được tiếp nhận, thực hành và lan tỏa; còn các giá trị quốc gia giữ vai trò định hướng mục tiêu, lý tưởng và khát vọng phát triển.
Trên nền tảng đó, Kế hoạch đặt ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: Hoàn thiện thể chế, chính sách; truyền thông, giáo dục các hệ giá trị; vận dụng các hệ giá trị trong xây dựng môi trường văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hợp tác quốc tế; ban hành kế hoạch triển khai gắn với kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, thi đua và khen thưởng.
Trước hết, Kế hoạch xác định hoàn thiện thể chế, chính sách là nhóm giải pháp nền tảng, yêu cầu: "Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, gia đình; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát triển con người toàn diện làm nền tảng triển khai đồng bộ các hệ giá trị, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của quốc gia, dân tộc và con người Việt Nam".
Việc đặt thể chế ở vị trí nền tảng cho thấy các hệ giá trị không thể chỉ được duy trì bằng sự tự giác hoặc những cuộc vận động mang tính thời điểm. Để trở thành chuẩn mực ổn định, các giá trị cần được chuyển hóa thành chính sách, tiêu chí và quy tắc ứng xử cụ thể trong từng lĩnh vực, ngành nghề, cơ quan và cộng đồng.
Đáng chú ý, Kế hoạch còn yêu cầu: "Tập trung cụ thể hóa các hệ giá trị thành chuẩn mực, quy tắc ứng xử văn hóa và phẩm chất phù hợp với từng lĩnh vực, ngành nghề và nhóm đối tượng". Đây là bước quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa chuẩn mực được xác lập trong văn bản và chuẩn mực được thực hành trong đời sống.
Từ góc độ quản lý văn hóa, ThS Lê Thị Kim Loan (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) cho rằng, trên cơ sở định lượng cụ thể của Nghị quyết 80-NQ/TW về hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam, các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa cần xây dựng hoàn thiện những tiêu chí cụ thể về hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Cụ thể, cần tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với gìn giữ, phát triển hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Cần xác định các giá trị cốt lõi của hệ giá trị văn hóa Việt Nam và nội hàm các tiêu chí bao hàm các lĩnh vực của đời sống xã hội, có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội của các tầng lớp nhân dân. Đề cao văn hóa, đạo đức; chống suy thoái đạo đức, lối sống; chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…
Xây dựng môi trường thực hành các hệ giá trị
Bên cạnh hoàn thiện thể chế, Kế hoạch dành trọng tâm lớn cho các nhóm giải pháp truyền thông, giáo dục và vận dụng các hệ giá trị trong xây dựng môi trường văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội.
Kế hoạch yêu cầu: "Đổi mới, đa dạng phương thức truyền thông về các hệ giá trị, xây dựng thông điệp ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu, sâu sắc, có sức lan tỏa và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng". Mỗi giá trị vì thế cần được chuyển tải bằng những câu chuyện, hình mẫu và tình huống gắn với đời sống cụ thể, phù hợp với lứa tuổi, nghề nghiệp và phương thức tiếp nhận của từng nhóm công chúng.

Đồng bào các dân tộc xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang tham gia bỏ phiếu bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-– 2031. Ảnh: TTXVN
Đặc biệt, yêu cầu "Tích hợp thành tố của các hệ giá trị vào chương trình giáo dục chính khóa các cấp học, chương trình phát triển văn hóa đọc" cho thấy giáo dục giá trị được đặt trong một tiến trình lâu dài, có hệ thống, thay vì chủ yếu thông qua hoạt động ngoại khóa hoặc những đợt vận động riêng lẻ. Khi được tích hợp phù hợp với từng cấp học, các giá trị không chỉ được truyền đạt bằng lý thuyết, mà còn được thực hành thông qua môi trường học đường, hoạt động trải nghiệm và các tình huống ứng xử hằng ngày.
Kế hoạch cũng xác định nguyên tắc phối hợp: "Lấy gia đình làm gốc, nhà trường làm nền tảng, xã hội làm môi trường thực hành các hệ giá trị". Cách phân định này cho thấy việc hình thành chuẩn mực con người không thể đặt toàn bộ trách nhiệm lên một thiết chế. Gia đình đặt nền móng và trao truyền những giá trị đầu tiên; nhà trường củng cố bằng tri thức, phương pháp và kỷ luật; còn xã hội là nơi cá nhân kiểm nghiệm, thực hành các giá trị trong lao động, giao tiếp và thực hiện trách nhiệm công dân.
Nhóm giải pháp quan trọng khác là nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Điểm mới ở đây là công nghệ không chỉ được nhìn nhận như một môi trường làm nảy sinh những xung đột giá trị, mà còn được xác định là công cụ để giáo dục, truyền thông, nghiên cứu và đánh giá mức độ thẩm thấu của các hệ giá trị.
Kế hoạch yêu cầu: "Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về các hệ giá trị; thu thập dữ liệu khảo sát xã hội học để phân tích, đánh giá điểm nóng, mức độ lan tỏa giá trị tích cực; phát triển bảng điều khiển (dashboard) theo dõi cho bộ, ngành, địa phương trong triển khai, thực hành các hệ giá trị".
Đây là cách tiếp cận dựa trên dữ liệu, giúp việc đánh giá từng bước thoát khỏi những nhận định cảm tính hoặc báo cáo nặng về số lượng hoạt động. Khi có cơ sở dữ liệu và hệ thống chỉ số được cập nhật thường xuyên, cơ quan quản lý có thể nhận diện những biến đổi trong lối sống, hành vi; phát hiện các nhóm xã hội hoặc môi trường đang xuất hiện khoảng trống giá trị, từ đó điều chỉnh chính sách và phương thức giáo dục phù hợp.
Cùng với những nhóm giải pháp trọng tâm này, Kế hoạch còn đặt ra nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế để quảng bá các hệ giá trị, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời yêu cầu các bộ, ngành, địa phương ban hành kế hoạch triển khai, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, thi đua và khen thưởng. Đây là những khâu cần thiết để mở rộng không gian lan tỏa giá trị, xác định rõ trách nhiệm và duy trì quá trình thực hiện trong suốt giai đoạn 2026 - 2035.
Có thể thấy, giá trị của Kế hoạch này không chỉ nằm ở việc bao quát 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, mà còn ở khả năng hình thành một cơ chế vận hành tương đối hoàn chỉnh: Thể chế tạo hành lang, giáo dục và môi trường xã hội nuôi dưỡng giá trị, công nghệ và dữ liệu cung cấp công cụ theo dõi, hợp tác quốc tế mở rộng khả năng lan tỏa, còn kiểm tra, giám sát bảo đảm trách nhiệm thực hiện.
Nhìn tổng thể, với việc xác lập đầy đủ hệ chuẩn mực con người Việt Nam gồm 8 giá trị cốt lõi, Nghị quyết 80-NQ/TW đã tạo dựng nền tảng quan trọng cho một giai đoạn phát triển mới của công tác xây dựng con người. Tuy nhiên, từ những giá trị được xác lập trên văn bản đến những giá trị được thực hành trong đời sống vẫn là một hành trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, đồng bộ và quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng toàn xã hội.
Thể chế hóa - bước đi quan trọng
Theo ThS Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), thể chế hóa hệ giá trị trong chính sách và pháp luật là bước quan trọng để chuyển các giá trị từ định hướng tư tưởng thành những chuẩn mực có tính bắt buộc trong đời sống xã hội. Quá trình này không chỉ dừng ở việc ban hành quy định mà còn phải bảo đảm tính minh bạch, công bằng và khả thi, qua đó củng cố niềm tin xã hội và tạo điều kiện để các giá trị được thực thi hiệu quả.