"Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở…" - hơn nửa thế kỷ qua, câu hát ấy vẫn được nhiều thế hệ người Việt Nam nhắc nhớ như một sự biết ơn đối với nữ anh hùng Võ Thị Sáu.
"Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở…" - hơn nửa thế kỷ qua, câu hát ấy vẫn được nhiều thế hệ người Việt Nam nhắc nhớ như một sự biết ơn đối với nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Ký ức về người con gái Đất Đỏ không chỉ được lưu giữ bằng những dấu mốc lịch sử hay chiến công cách mạng, mà còn bằng hình ảnh một mùa hoa.
Nguyễn Đức Toàn từng chia sẻ, ông muốn viết về người lính nhưng dưới dạng tâm tình. Từ lựa chọn ấy, trong Biết ơn chị Võ Thị Sáu, ông đưa người anh hùng trở về với tuổi trẻ, với thiên nhiên hòa vào những hình ảnh bình dị. Điều này sẽ trở nên đặc biệt khi chúng ta đặt tác phẩm trong bối cảnh chung của mảng ca khúc cách mạng giai đoạn 1954 - 1975. Giai đoạn này, hình tượng người anh hùng thường được khắc họa qua những chiến công, ý chí chiến đấu và tinh thần bất khuất. Biết ơn chị Võ Thị Sáu ra đời năm 1958 trong bối cảnh ấy và có những nét riêng.
Vẻ đẹp đời thường trong sự hy sinh bất tử
Nguyễn Đức Toàn không bắt đầu ca khúc bằng cuộc chiến đấu, phiên tòa hay pháp trường mà mở ra một không gian không có tiếng súng; trước khi khán giả gặp người anh hùng, họ được gặp một mùa hoa: "Mùa hoa lê-ki-ma nở/ Ở quê ta miền Đất Đỏ…". Hình ảnh đầu tiên người nghe nhận thấy là vẻ đẹp bình yên của một miền đất, của thiên nhiên, tuổi trẻ. Và trong không gian ấy, hình ảnh chị Võ Thị Sáu hiện lên trước hết là một cô gái rất trẻ, yêu cái đẹp, sau đó mới là một nữ anh hùng.
Cách xây dựng giai điệu càng làm nổi bật ý tưởng của lời ca. Ngay ở câu hát mở đầu đã sử dụng những bước nhảy quãng khá rộng rồi nhanh chóng trở về chuyển động liền bậc. Từ quãng 5 ở "mùa - hoa", quãng 4 ở "ở - quê" đến quãng 3 ở "sông - núi", các bước nhảy có xu hướng thu hẹp dần, trong khi phần tiếp nối đều vận động bình ổn và lắng xuống. Cách tổ chức ấy vừa mở ra một không gian khoáng đạt, sáng trong, vừa dẫn cảm xúc người nghe dần đến chiều sâu của câu chuyện. Giai điệu vì thế không chỉ minh họa lời ca mà còn góp phần khắc họa hình ảnh Võ Thị Sáu bằng vẻ đẹp bình dị trước khi tôn vinh sự hy sinh bất tử.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn (10/3/1929 - 7/10/2016)
Chính sự đối lập giữa những bước nhảy mở rộng không gian và những nét giai điệu liền bậc, lắng xuống đã khiến mùa hoa hiện lên vừa có sức nâng đỡ, vừa có sự dịu dàng. Biết ơn chị Võ Thị Sáu vừa là khúc ca tri ân người nữ anh hùng vừa là minh chứng cho tư duy sáng tạo tiêu biểu của Nguyễn Đức Toàn. Ông ghi nhớ lịch sử bằng hình tượng, không dừng lại ở mất mát mà bất tử hóa hình tượng đó bằng vẻ đẹp.
Cái hay của lối viết "tâm tình" mang đặc trưng Nguyễn Đức Toàn ở chỗ không làm nhẹ đi tính sử thi của âm nhạc cách mạng, nhưng lại tìm được con đường ngắn để chạm cảm xúc người nghe, để họ lặng lẽ bước vào thế giới nội tâm của ký ức với lòng biết ơn.
Và lựa chọn ấy giúp tác phẩm trở thành một ca khúc nghệ thuật có đời sống lâu bền. Dường như đó cũng là cách Nguyễn Đức Toàn viết về những người anh hùng nói chung. Dù là hình tượng Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Lý Tự Trọng hay Nguyễn Viết Xuân… điều ông hướng tới không chỉ tái hiện các chiến công, mà là lưu giữ vẻ đẹp tinh thần của những con người đã làm nên lịch sử.
Lịch sử trong âm nhạc của Nguyễn Đức Toàn vì thế luôn thấm đẫm hơi ấm của con người.
Sáng tác sự kiện bằng ấn tượng
Trong những chia sẻ về hoàn cảnh ra đời ca khúc Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Đức Toàn kể rằng điều khiến ông xúc động là một chi tiết rất nhỏ trong một tác phẩm: Thuở nhỏ, chị Võ Thị Sáu rất thích hoa lê-ki-ma. Và rồi chi tiết tưởng như bên lề trở thành điểm khởi đầu của cả ca khúc bất tử.
Sự lựa chọn này cho thấy phần nào tư duy sáng tác của Nguyễn Đức Toàn. Ông không bắt đầu từ sự kiện lịch sử mà từ một ấn tượng, một hình ảnh có khả năng gợi mở cảm xúc. Bởi vậy, Biết ơn chị Võ Thị Sáu không kể lại cuộc đời của một nữ anh hùng theo trình tự thời gian mà kết nối những chi tiết giàu hình ảnh như mùa hoa, miền đất đỏ, tuổi trẻ, hy sinh… Tất cả những chi tiết ấy khi đặt cạnh nhau tạo nên một chân dung hoàn chỉnh.
Nguyễn Đức Toàn thường được nhắc đến là một nghệ sĩ thành công ở cả âm nhạc và hội họa. Có điểm rất hay là hội họa còn hiện diện ngay trong tư duy sáng tác âm nhạc của ông. Chẳng hạn, khi bắt đầu một tác phẩm người họa sĩ thường tạo bố cục, ánh sáng và màu sắc… Nguyễn Đức Toàn dường như cũng làm điều tương tự trong âm nhạc. Ông mở cánh cửa cảm xúc từ thiên nhiên, rồi mới dẫn đến con người và lịch sử. Biết ơn chị Võ Thị Sáu là ví dụ tiêu biểu. Trước khi nghe thấy câu chuyện, khán giả đã nhìn thấy một không gian, đó là mùa hoa, là miền đất đỏ và màu sắc của thiên nhiên. Để rồi, chị Võ Thị Sáu xuất hiện như một phần tự nhiên của không gian ấy.
Có thể nói, Nguyễn Đức Toàn không chỉ viết bằng giai điệu mà còn viết bằng hình ảnh. Tư duy tạo hình này khiến âm nhạc của ông luôn giàu chất thơ, có tính hội họa và có khả năng lưu lại trong tâm trí người nghe những hình tượng thị giác rất cụ thể. Họ không chỉ nhớ giai điệu mà còn có thể nhớ tới màu sắc, không gian và những hình ảnh được nhắc đến trong tác phẩm.
Mùa hoa mãi nở
"Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn không chỉ viết bằng giai điệu mà còn viết bằng hình ảnh. Tư duy tạo hình này khiến âm nhạc của ông luôn giàu chất thơ, có tính hội họa và có khả năng lưu lại trong tâm trí người nghe những hình tượng thị giác rất cụ thể" - Nhạc sĩ, nhà phê bình Nguyễn Quang Long.
Mất mát và nỗi đau luôn là những điều không thể tránh khỏi trong mỗi cuộc chiến tranh. Trong khi đó, âm nhạc phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua lăng kính nghệ thuật. Cũng vì thế mà đề tài chiến tranh cách mạng luôn hiện diện trong sự nghiệp sáng tác của một nhạc sĩ sống trong thời chiến như Nguyễn Đức Toàn và những nhạc sĩ cùng thế hệ. Thông qua tác phẩm của ông, chiến tranh cách mạng - trong đó có sự hy sinh mất mát - luôn hiện hữu nhưng không bao giờ là điểm kết thúc của cảm xúc: Qua ngôn ngữ âm nhạc, sự hy sinh được chuyển thành những hình tượng đẹp đẽ, trong trẻo và giàu sức sống.
Ở Biết ơn chị Võ Thị Sáu, đó là mùa hoa lê-ki-ma. Điều còn đọng lại sau mỗi lần ca khúc vang lên lại thấy một mùa hoa vẫn nở trên miền Đất Đỏ. Bằng nghệ thuật, Nguyễn Đức Toàn nói rõ quan điểm, sự hy sinh không dừng ở mất mát, mà tiếp tục hiện hữu trong vẻ đẹp của thiên nhiên, trong lòng biết ơn và trong trái tim mọi người.
Có lẽ vì thế mà câu hát "đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở" mang ý nghĩa vượt lên trên giá trị của một hình ảnh đậm chất thơ. Cái chết ở đây không chỉ được nhìn như sự kết thúc của một đời người, mà còn là khởi đầu cho một sức sống khác. Mùa hoa ấy, mỗi lần nở, lại gợi nhắc đến chị Võ Thị Sáu. Đó là một sự "tái sinh" của ký ức bằng nghệ thuật.
Từ đây, nhìn rộng vào sáng tác của Nguyễn Đức Toàn có thể thấy đó là một đặc điểm nhất quán trong tư duy nghệ thuật. Ông không tìm cái đẹp bằng cách né tránh hiện thực, mà bằng cách chuyển hóa hiện thực. Cuộc kháng chiến chống Pháp trong Quê em miền trung du (1949) không chỉ có khói lửa, mà còn là màu xanh bền bỉ của quê hương. Biển không chỉ là biển, mà mang trong mình đầy ắp tình yêu và niềm tin (Chiều trên bến cảng - 1978). Hà Nội không chỉ là một không gian địa lý, mà trở thành "một trái tim hồng" (Hà Nội trái tim hồng - 1987)…
Nhiều ca khúc của Nguyễn Đức Toàn vẫn sống cùng thời gian là vì vậy. Người nghe không chỉ nhớ một giai điệu hay một câu chuyện lịch sử, mà còn mang theo những hình tượng đã trở thành một phần rất quan trọng, giống như một đặc trưng văn hóa. Với Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Đức Toàn không chỉ sáng tác ca khúc về một nữ anh hùng. Ông đã góp phần tạo nên cách nhiều thế hệ người Việt Nam tưởng nhớ về chị. Một cách tưởng nhớ bằng lòng khâm phục đối với người chiến sĩ cách mạng kiên trung, và bằng hình ảnh một mùa hoa mãi nở cùng quê hương, đất nước.