thethaovanhoa.vn

Kiến tạo hạ tầng dữ liệu văn hóa từ "số hóa" di sản

Công Bắc 25/07/2026 16:40 GMT+7

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng của phát triển văn hóa, số hóa di sản không còn được nhìn nhận đơn thuần như một giải pháp bảo tồn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng của phát triển văn hóa, số hóa di sản không còn được nhìn nhận đơn thuần như một giải pháp bảo tồn. Điều cốt lõi là xây dựng được một hệ dữ liệu chuẩn hóa, có khả năng kết nối, chia sẻ và tiếp tục tạo ra những giá trị mới cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa.

Đây là nội dung được nhiều chuyên gia tập trung phân tích tại tọa đàm Số hoá di sản ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám diễn ra mới đây tại Hà Nội.

Từ câu chuyện số hóa ở Văn Miếu…

Tại tọa đàm, ấn phẩm vật lý số Nghê nơi cửa Khổng sân Trình - cuốn sách vật lý số đầu tiên tại Việt Nam - được giới thiệu như một minh chứng sống động cho những cách tiếp cận mới trong số hóa di sản.

Một bức tượng nghê bằng đồng, được chế tác theo nguyên mẫu linh thú đang chầu trên cột tứ trụ của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, thoạt nhìn chỉ là một vật phẩm lưu niệm dành cho người yêu di sản. Thế nhưng, phía sau hình hài này lại là một không gian tri thức được mở ra bằng công nghệ. Chỉ cần chạm điện thoại thông minh vào chip NFC gắn trên tượng, toàn bộ nội dung cuốn sách Nghê nơi cửa Khổng sân Trình hiện lên trên không gian số.

Kiến tạo hạ tầng dữ liệu văn hóa từ "số hóa" di sản - Ảnh 1.

Sách vật lý số “Nghê nơi cửa Khổng sân Trình” được “cất giữ” trong các tượng nghê đồng Văn Miếu

Theo TS Trần Hậu Yên Thế, tác giả cuốn sách, đây là ví dụ rõ nét cho thấy công nghệ có thể mở rộng giá trị của di sản trên không gian số mà không đánh mất trải nghiệm vật lý khi tiếp cận di sản. Quan trọng hơn, sản phẩm này mở ra một khả thể quan trọng, khi công nghệ, văn hóa, nghệ thuật và di sản gặp nhau để tạo nên những cách thức biểu đạt, trải nghiệm và phát huy giá trị di sản theo những phương thức trước đây chưa từng có.

Ở phạm vi rộng hơn, câu chuyện của Nghê nơi cửa Khổng sân Trình cũng phản ánh xu hướng số hóa đang được triển khai tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong nhiều năm qua.

Theo TS Nguyễn Văn Tú (Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám), sau khi hệ thống 82 bia Tiến sĩ được UNESCO ghi danh vào Danh mục Ký ức thế giới năm 2010, một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận đối với khối tư liệu quý này. Chính từ yêu cầu này, Trung tâm đã xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị bia Tiến sĩ, trong đó số hóa được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm.

Đáng nói, ngay từ năm 2014, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã lựa chọn hướng đi nhiều thách thức: Không dừng lại ở việc chụp ảnh hay lưu trữ tư liệu, mà hướng tới xây dựng dữ liệu 3D cho toàn bộ 82 bia Tiến sĩ. Mỗi tấm bia không chỉ được ghi nhận về hình ảnh, hoa văn hay kích thước, mà còn được quét để người dùng có thể quan sát từ mọi góc độ, tạo nên một bản sao số gần như đầy đủ của hiện vật.

Ở thời điểm đó, khi công nghệ quét 3D chưa phát triển như hiện nay, việc triển khai gặp không ít khó khăn về thiết bị cũng như nguồn lực. Nhưng, những  dữ liệu đầu tiên được đưa lên website để phục vụ nghiên cứu, truyền thông và giới thiệu di tích đã trở thành những viên gạch đầu tiên của hành trình chuyển đổi số tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Tiếp đó, khi nhu cầu tiếp cận di sản trên môi trường số trở nên cấp thiết trong giai đoạn đại dịch Covid-19 bùng nổ, Trung tâm  tiếp tục đẩy mạnh triển khai đồng bộ nhiều dự án số hóa, và  hướng tới xây dựng một hệ dữ liệu toàn diện về di tích. Đến nay, quá trình này đã hình thành một nền tảng dữ liệu khá đầy đủ. Hơn 200 tư liệu, ảnh lịch sử, văn bia, bản dập, hoành phi, câu đối đã được số hóa 2D; 155 hiện vật được số hóa 3D; 43 hạng mục kiến trúc cùng 94 điểm panorama 360 được xây dựng trên môi trường số; toàn bộ 82 bia Tiến sĩ đã được số hóa.

Kiến tạo hạ tầng dữ liệu văn hóa từ "số hóa" di sản - Ảnh 2.

Tọa đàm “Số hoá di sản ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám”

Trên nền tảng dữ liệu này, hàng loạt ứng dụng phục vụ công chúng được phát triển như thư viện số với hơn 110 ấn phẩm, mô phỏng không gian Văn Miếu thời Lê, hệ thống tra cứu hiện vật, thiết bị thuyết minh tự động, màn hình tương tác, phim phù điêu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trải nghiệm 3D mapping hay tour đêm Tinh hoa đạo học. Ngay cả hoạt động quản lý, dịch vụ cũng từng bước chuyển đổi thông qua hệ thống vé điện tử và soát vé tự động.

Trong giai đoạn tiếp theo, Văn Miếu - Quốc Tử Giám sẽ tiếp tục số hóa toàn bộ các công trình kiến trúc trong khu di tích. Đây sẽ là bộ dữ liệu quy chuẩn, đủ khả năng hỗ trợ phục dựng trong trường hợp xảy ra sự cố, đồng thời tạo nền tảng để tái hiện chính xác không gian di tích trên môi trường số.

Với những kết quả hứa hẹn, TS Nguyễn Văn Tú kỳ vọng, quá trình số hóa sẽ xây dựng một hệ thống dữ liệu được quản lý an toàn, có khả năng liên thông với các cơ sở dữ liệu khác trên cơ sở những quy chuẩn thống nhất, qua đó trở thành nền tảng chung cho công tác bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị di sản.

Hướng tới xây dựng hệ sinh thái tri thức

Nhìn rộng hơn, trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng của phát triển văn hóa, thách thức của vấn đề này là xây dựng được một hạ tầng dữ liệu di sản có tính chuẩn hóa, kết nối và liên thông, đủ khả năng trở thành nền tảng cho sáng tạo và phát triển.

Theo TS Trần Hoài (Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQGHN), những năm gần đây, Việt Nam đã xuất hiện nhiều mô hình và sản phẩm số, cho thấy công nghệ có thể tạo ra cách tiếp cận mới đối với di sản. Vấn đề nằm ở chỗ các giá trị này vẫn chưa được chuyển dịch và kết nối để tạo thành một hệ sinh thái có khả năng sản sinh tri thức và giá trị mới.

Kiến tạo hạ tầng dữ liệu văn hóa từ "số hóa" di sản - Ảnh 3.

TS Trần Hoài chia sẻ tại tọa đàm

Ông phân tích, sự chuyển dịch đầu tiên và cũng là quan trọng nhất là chuyển từ vật thể sang tri thức số. Theo đó, việc quét 3D một hiện vật hay số hóa một công trình kiến trúc mới chỉ tạo ra dữ liệu ở dạng hình ảnh hoặc mô hình. Chỉ khi dữ liệu được gắn với các lớp thông tin về lịch sử, bối cảnh, giá trị văn hóa, kỹ thuật chế tác hay hệ thống ý nghĩa của di sản, chúng mới thực sự trở thành nguồn tri thức có thể phục vụ nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo.

Từ đây, TS Trần Hoài đặt ra yêu cầu chuyển từ những dự án số hóa riêng lẻ sang một hạ tầng dữ liệu có tính kết nối. Theo ông, không ít dự án hiện nay vẫn tồn tại như những "ốc đảo" dữ liệu, mỗi đơn vị xây dựng một cơ sở dữ liệu, một nền tảng và một cách tiếp cận riêng. Điều cần hướng tới là một hệ sinh thái dữ liệu, nơi các nguồn tư liệu được chuẩn hóa, kết nối và cộng hưởng để hình thành nguồn tài nguyên số chung cho toàn xã hội.

Xa hơn nữa là sự tiếp nối giữa di sản văn hóa và công nghiệp văn hóa. Theo TS Trần Hoài, dữ liệu và tri thức số không phải đích đến cuối cùng của quá trình số hóa, mà là nền tảng để mở rộng không gian sáng tạo. Khi có một cơ sở dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy, di sản mới có thể được phát triển thành các sản phẩm văn hóa phái sinh, những hình thức trải nghiệm mới hay các ý tưởng thiết kế, giáo dục và truyền thông sáng tạo. Chính quá trình chuyển hóa từ tri thức sang sản phẩm sẽ tạo ra giá trị kinh tế, đồng thời đưa di sản đến gần hơn với đời sống đương đại.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Văn Tú cho rằng, nếu không có một bộ dữ liệu hoàn chỉnh thì rất khó nói đến sáng tạo. Theo ông, việc cần làm là tiếp tục từng bước hoàn thiện số hóa hiện vật, di tích và dữ liệu di sản; trên cơ sở đó mới có thể phát triển các sản phẩm công nghiệp số, công nghiệp văn hóa và khai thác hiệu quả giá trị của dữ liệu. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng hạ tầng công nghệ, khả năng kết nối và các hoạt động truyền thông, quảng bá, thay vì chỉ tồn tại như một cơ sở lưu trữ.

Rõ ràng, như phân tích của các chuyên gia, có thể khẳng định mục tiêu của số hóa không chỉ là lưu giữ di sản trên môi trường số, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ dữ liệu chuẩn hóa, có khả năng kết nối, chia sẻ và tiếp tục tạo ra giá trị mới cho bảo tồn và phát triển văn hóa.

Vì vậy, đánh giá một dự án dữ liệu hóa di sản cũng không thể chỉ dựa vào số lượt quét chip, độ hấp dẫn của hiệu ứng công nghệ hay lượng chia sẻ trên mạng xã hội. Theo TS Trần Hoài, cần đặt ra những câu hỏi căn bản hơn: Dữ liệu có đạt chuẩn bảo tồn hay không; đơn vị quản lý có nắm giữ bản gốc số hay không; dữ liệu có thể tích hợp vào hệ thống quốc gia hay không; có cơ chế cập nhật, sửa chữa và duy trì trong nhiều năm hay không; có phục vụ nhà nghiên cứu, trường học và cộng đồng hay không; và quan trọng hơn, nó làm phong phú thêm hay làm giản lược ý nghĩa của di sản.

Từ góc nhìn này, số hóa di sản cần được nhìn nhận không chỉ ở những sản phẩm số được tạo ra, mà ở việc hình thành một hệ sinh thái tri thức có trách nhiệm, nơi dữ liệu phục vụ đồng thời bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và sự tham gia của công chúng.

Định hướng từ Nghị quyết số 80-NQ/TW

Quá trình số hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cũng như những trao đổi của các chuyên gia tại tọa đàm Số hóa di sản ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã cho thấy nhiều nội dung đang được triển khai theo định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Tại đó, một trong các nhiệm vụ, giải pháp được Nghị quyết nêu rõ: "Xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hoá quốc gia, nền tảng số dùng chung bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển nội dung số, hạ tầng văn hoá số Việt Nam. Chuẩn hoá và số hoá toàn diện di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao; quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hoá số".

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN