Hơn một thế kỷ sau khi ra đời, hàng chục nghìn bức ảnh của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết.
Hơn một thế kỷ sau khi ra đời, hàng chục nghìn bức ảnh của Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết. Tại đó, tiếp nối sau hành trình lưu giữ và bảo tồn được đề cập ở kỳ trước - "Kho ảnh EFEO và hành trình lưu giữ ký ức" - bộ sưu tập này đang dần được nhìn nhận như một nguồn sử liệu có thể mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về lịch sử, văn hóa và di sản Việt Nam.
Tại Hội thảo khoa học Sưu tập tư liệu ảnh EFEO - Tiềm năng di sản vừa qua, nhiều tham luận đã bước đầu gợi mở những hướng khai thác mới đối với bộ sưu tập này, khi các bức ảnh vừa được tiếp cận như một nguồn sử liệu độc lập, vừa kết hợp với công nghệ và phương pháp nghiên cứu liên ngành trong giai đoạn mới.
Nguồn sử liệu về lịch sử công nghiệp
Theo TS Nguyễn Lan Dung (Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), trong nhiều thập niên qua, lịch sử công nghiệp khai khoáng thời thuộc địa chủ yếu được nghiên cứu qua các tư liệu dạng văn bản. Tuy nhiên, với khoảng 200 bức ảnh về các khu mỏ ở Bắc Kỳ, bộ sưu tập EFEO lại gợi mở một hướng tiếp cận khác: coi ảnh như một nguồn sử liệu độc lập, có thể bổ sung những thông tin mà văn bản chưa phản ánh đầy đủ.
Thống kê cho thấy lượng ảnh này chủ yếu được chụp tại các khu mỏ lớn như Chợ Điền, Hòn Gai, Đông Triều, cùng một số địa điểm nhỏ hơn như mỏ than Mạo Khê hay mỏ thiếc Tĩnh Túc. Đáng nói, không dừng ở từng công trình riêng lẻ, nhiều bức ảnh cho phép quan sát toàn bộ cấu trúc không gian của khu mỏ. Tại đó, hệ thống ga đường sắt, khu sàng than, bãi chứa, nhà máy điện và khu nhà ở... xuất hiện trong cùng một trường quan sát, cho thấy khu mỏ thời thuộc địa không đơn thuần là nơi khai thác khoáng sản mà là một tổ hợp sản xuất liên hoàn, nơi các khu vực được bố trí theo một chuỗi chức năng thống nhất. Đây là phương diện mà nhiều tài liệu trước đây ít có điều kiện phản ánh.

Cảng than Uông Bí thời Pháp thuộc với hệ thống ghe và thuyền chở than. Ảnh: EFEO
Những đặc tính này thể hiện rõ tại nhiều bức ảnh chụp các khu mỏ Đông Triều, Chợ Điền và đặc biệt là Hòn Gai. Điển hình, loạt ảnh ở Hòn Gai ghi lại các tầng khai thác được mở thành những bậc lớn chạy dọc sườn núi, nối với hệ thống đường ray bố trí ngay trên từng tầng. Một số ảnh khác cho thấy các tuyến đường ray nghiêng chạy theo triền dốc để đưa than từ khu vực khai thác xuống phía dưới trước khi tiếp tục kết nối với khu tập kết và vận chuyển. Theo phân tích của TS Nguyễn Lan Dung, những chi tiết này cho thấy địa hình tự nhiên tại một số khu mỏ đã trực tiếp chi phối cách tổ chức không gian sản xuất cũng như các giải pháp kỹ thuật của ngành khai khoáng thời thuộc địa.
Bên cạnh đó, kho ảnh EFEO cũng gợi mở những khía cạnh xã hội ít được nhắc đến trong các nghiên cứu trước đây. Một số bức ảnh tại mỏ Chợ Điền cho thấy khu nhà của giám đốc mỏ được xây dựng ở vị trí biệt lập, trong khi phía dưới là các dãy nhà dài bố trí dọc sườn đồi, nhiều khả năng là nơi ở của công nhân. Theo TS Nguyễn Lan Dung, sự phân tách về vị trí, không gian và quy mô kiến trúc ấy phản ánh khá rõ thứ bậc xã hội tồn tại ngay bên trong một khu công nghiệp thuộc địa, khi khu mỏ vừa là một không gian sản xuất, vừa là một không gian xã hội được tổ chức theo những quan hệ quyền lực cụ thể.
Và từ những phân tích về các bức ảnh gắn với khai khoáng, theo TS Nguyễn Lan Dung, khi được khai thác bằng những hướng nghiên cứu mới, các bức ảnh của EFEO sẽ góp phần mở ra thêm nhiều hướng tiếp cận đối với lịch sử kinh tế, xã hội và công nghiệp Việt Nam thời cận đại.
Tư liệu quý cho nghiên cứu trang phục truyền thống
Theo chuyên gia Vũ Hà Mi (Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng, Viện Nghiên cứu Văn hóa Tín ngưỡng), kho ảnh EFEO cũng mở ra nhiều khả năng nghiên cứu và phỏng dựng trang phục Việt Nam trong lịch sử - lĩnh vực đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn để phục vụ các ngành công nghiệp sáng tạo. Thực tế, bộ sưu tập ảnh này đang lưu giữ nhiều hình ảnh về trang phục của người Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX và có thể góp thêm nhiều thông tin giá trị bên cạnh các nguồn tư liệu khác.

Khu nhà của nhân viên Pháp trong mỏ Clotilde (Vàng Danh). Ảnh: EFEO
Như phân tích của chuyên gia này, một trong những giá trị nổi bật của kho ảnh EFEO là việc phản ánh quá trình chuyển biến của trang phục trong giai đoạn cận đại - thời kỳ chịu tác động của đô thị hóa, giao lưu văn hóa và ảnh hưởng của phương Tây. Qua những bức ảnh được chụp ở các thời điểm khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể theo dõi sự thay đổi trong cách ăn mặc của người Việt Nam. Chẳng hạn, nhiều ảnh chụp tại Hà Nội đầu thế kỷ XX cho thấy áo ngũ thân vẫn được sử dụng song song với áo vest, mũ phớt và các yếu tố phục sức phương Tây trong giới viên chức, trí thức và cư dân đô thị.
Đối với phụ nữ, kho ảnh cũng ghi lại giai đoạn chuyển tiếp từ áo ngũ thân sang những kiểu áo dài hiện đại hơn, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu quá trình hình thành áo dài - chủ đề vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong giới học thuật. Đồng thời, bên cạnh sự thay đổi theo thời gian, ảnh EFEO còn cho phép so sánh đặc điểm trang phục giữa các vùng miền, góp phần làm rõ tính đa dạng của văn hóa trang phục Việt Nam.
Như lời chuyên gia Vũ Hà Mi, từ các bức ảnh cũ, giới nghiên cứu có thể quan sát tỷ lệ thân áo, độ dài vạt, kiểu cổ, cách cài khuy, độ rộng tay áo, cách đội khăn và sự kết hợp giữa các thành phần phục sức. Đối với trang phục nữ, ảnh còn giúp nhận diện cách mặc nhiều lớp áo, sử dụng thắt lưng và các phụ kiện đi kèm. Đặc biệt, mỗi bức ảnh đều đặt trang phục trong một bối cảnh cụ thể như sinh hoạt thường ngày, nghi lễ hay lễ hội, giúp việc phỏng dựng bám sát đời sống lịch sử thay vì chỉ tái hiện hình thức của y phục.
Và từ những kết quả nghiên cứu đó, ảnh tư liệu EFEO có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, bảo tàng, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và du lịch văn hóa. Việc kết hợp ảnh với các mẫu trang phục được phỏng dựng sẽ làm phong phú không gian trưng bày, hỗ trợ thiết kế phục trang cho phim lịch sử, đồng thời tạo thêm những trải nghiệm văn hóa tại các di tích, điểm đến du lịch.
Máy móc vẫn phụ thuộc vào sức người
Bên cạnh hạ tầng và công trình kỹ thuật, nhiều bức ảnh EFEO còn ghi lại cách vận hành của các khu mỏ thời thuộc địa. Dù được đầu tư máy móc và công nghệ, phần lớn công việc vẫn dựa vào sức lao động thủ công của công nhân bản xứ. Trong ảnh, người lao động xuất hiện ở hầu hết các công đoạn, từ đào đắp nền đường, lắp đặt đường ray, đẩy xe goòng đến xúc than, phân loại quặng, với công cụ đơn giản và điều kiện bảo hộ còn rất hạn chế.
Theo TS Nguyễn Lan Dung, những khuôn hình này phản ánh đặc trưng của ngành khai khoáng thời thuộc địa: sự kết hợp giữa kỹ thuật công nghiệp do người Pháp đưa vào và nguồn lao động bản xứ.
(Còn tiếp)