Hơn một thế kỷ sau khi những bức ảnh đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) được chụp trên đất nước Việt Nam, phần lớn chúng vẫn còn hiện hữu. Và, tiếp theo kỳ trước về "Kho ảnh EFEO - những khuôn hình được tạo ra cho khoa học", câu chuyện lần này gắn hành trình gìn giữ kho ảnh ấy trong nhiều thập niên qua.
Hơn một thế kỷ sau khi những bức ảnh đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) được chụp trên đất nước Việt Nam, phần lớn chúng vẫn còn hiện hữu. Và, tiếp theo kỳ trước về "Kho ảnh EFEO - những khuôn hình được tạo ra cho khoa học", câu chuyện lần này gắn hành trình gìn giữ kho ảnh ấy trong nhiều thập niên qua.
Thực tế, đến thời điểm hiện tại, hành trình này vẫn chưa thể kết thúc, bởi việc bảo tồn những bức ảnh cụ thể mới chỉ là bước khởi đầu. Đằng sau chúng còn là những lớp ký ức khác đang đứng trước nguy cơ mai một về những chú thích, địa danh, nhân vật, bối cảnh lịch sử và cả những thông tin khoa học đã tạo nên giá trị của bộ sưu tập.
Cuộc đua với thời gian
Theo ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, phần lớn tư liệu ảnh EFEO là ảnh đen trắng được tạo ra từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX bằng các kỹ thuật nhiếp ảnh phổ biến thời bấy giờ. Khác với tài liệu giấy thông thường, ảnh cổ có cấu tạo gồm nhiều lớp vật liệu nên rất nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và các tác nhân hóa học trong môi trường. Theo thời gian, lớp bạc ảnh có thể bị oxy hóa, lớp nhũ tương bong tách, nền giấy biến dạng hoặc phai màu, khiến thông tin hình ảnh dần suy giảm.

Phòng Xử lý phim ảnh của EFEO năm 1939
Thách thức ấy càng trở nên rõ nét trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của miền Bắc, nơi nhiệt độ và độ ẩm luôn biến động theo mùa, đặc biệt vào những đợt nồm kéo dài. Bởi vậy, ngay từ thời Pháp thuộc, khi EFEO đặt trụ sở tại đại lộ Carreau (nay là phố Lý Thường Kiệt), công tác bảo quản kho ảnh đã được đặc biệt chú trọng. Điển hình, theo nhà nghiên cứu Ngô Thế Long (nguyên Trưởng phòng Tin học hóa Viện Thông tin Khoa học xã hội), các chuyên gia Pháp khi đó vẫn thường xuyên sử dụng các chậu vôi sống trong kho lưu trữ để hút hơi nước. Đây là giải pháp đơn giản nhưng hiệu quả trong điều kiện kỹ thuật lúc bấy giờ để hạn chế nấm mốc phát triển trên phim, ảnh.
Sau năm 1957, khi kho tư liệu của EFEO được bàn giao cho phía Việt Nam, các cán bộ của Viện tiếp tục kế thừa những kinh nghiệm bảo quản trước đó. Tuy nhiên, việc lưu giữ một khối lượng lớn phim và ảnh trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn là một thách thức không nhỏ. Trong những năm chiến tranh rồi thời kỳ bao cấp, nguồn điện tại đây thường xuyên thiếu ổn định khiến hệ thống điều hòa và hút ẩm hoạt động không liên tục, còn kinh phí dành cho công tác bảo quản rất hạn hẹp. Kho lưu trữ cũng chưa được thiết kế chuyên dụng cho tư liệu ảnh cổ, khiến nhiệt độ và độ ẩm nhiều thời điểm không bảo đảm các yêu cầu.
Từ năm 2012, toàn bộ kho ảnh EFEO được chuyển về trụ sở Viện Thông tin Khoa học xã hội tại số 1 Liễu Giai. Điều kiện lưu giữ từ thời điểm này đã dần được cải thiện đáng kể, song theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn chưa đạt mức tối ưu đối với loại hình tư liệu đặc biệt này. Hệ thống chiếu sáng vẫn sử dụng đèn tuýp thông thường, chưa có màng lọc tia cực tím; nhiệt độ và độ ẩm trong kho cũng chưa đạt mức tối ưu vì còn biến động theo mùa cũng như theo thời điểm trong ngày. Nếu tình trạng này kéo dài, quá trình lão hóa vật liệu ảnh sẽ tiếp tục diễn ra nhanh hơn.

Ảnh tư liệu EFEO chụp Ô Quan Chưởng (Hà Nội)
Hiện nay, toàn bộ tư liệu ảnh EFEO được lưu giữ trong 24 tủ chuyên dụng và sắp xếp theo hệ thống mã kho phục vụ tra cứu. Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy nhiều bức ảnh đã xuất hiện những dấu hiệu lão hóa ở các mức độ khác nhau như bong tách lớp nhũ tương, bạc hóa bề mặt, cong vênh hoặc rách mép. Dù vậy, phần lớn vẫn giữ được khoảng 80 - 85% thông tin hình ảnh ban đầu và còn đủ điều kiện để phục vụ nghiên cứu cũng như số hóa.
Theo ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, điều đáng lưu ý hiện nay không nằm ở hư hỏng riêng lẻ của một vài bức ảnh. Xa hơn, đây là câu chuyện về quá trình lão hóa tự nhiên của cả bộ sưu tập dưới tác động đồng thời của tuổi thọ vật liệu, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và những biến động của điều kiện bảo quản qua nhiều giai đoạn. Có nghĩa, cùng với việc hạn chế sự xuống cấp của kho ảnh, nhiệm vụ đặt ra là lưu giữ đầy đủ nhất những thông tin mà chúng đang chứa đựng trước khi dấu vết của thời gian tiếp tục làm mất đi một phần giá trị tư liệu.
"Đọc tiếp" những bức ảnh trăm năm
Như chia sẻ từ các chuyên gia, những thông tin đi kèm chính là phần giá trị dễ bị mai một nhất của một bức ảnh. Bởi một bức ảnh cổ có thể còn khá nguyên vẹn sau cả trăm năm, nhưng nếu không xác định được người chụp, địa điểm, thời gian hay hoàn cảnh ra đời, giá trị nghiên cứu của nó sẽ giảm đi đáng kể. Và với những kho tư liệu ảnh giá trị như của EFEO, quá trình bảo tồn cũng đồng nghĩa với việc gìn giữ, xác lập toàn bộ hệ thống dữ liệu gắn với mỗi khuôn hình.
Cụ thể, theo GS Philippe Le Failler, Trưởng đại diện EFEO tại Hà Nội, chính hệ thống chú thích ấy là yếu tố quyết định để một bức ảnh trở thành tư liệu khoa học. "Trong nghiên cứu khoa học, phần chú thích ảnh là yếu tố không thể thiếu. Một bức ảnh được nhận diện chính xác và được xem như một tư liệu lưu trữ sẽ bổ sung cho các ghi chép thực địa hoặc trong phòng nghiên cứu" - ông nói.
Tuy nhiên, việc hình thành kho ảnh từ nhiều nguồn khác nhau trong suốt hơn một thế kỷ cũng khiến chất lượng thông tin đi kèm không đồng đều. Theo GS Le Failler, nhiều ảnh không ghi ngày tháng, một số chú thích còn sai lệch hoặc quá sơ sài, thậm chí có những bức hoàn toàn không có chú thích. Trong nhiều trường hợp, đối tượng chụp còn có thể nhận diện được, nhưng địa điểm, thời gian và đặc biệt là tên người chụp lại rất khó xác định.
Khảo sát của Viện Thông tin Khoa học xã hội cũng cho thấy thực trạng tương tự. Phần lớn ảnh EFEO được dán trên bìa cứng, kèm các thông tin bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt như tên ảnh, địa điểm, thời gian, tác giả và số đăng ký. Tuy nhiên, hệ thống đánh số và tổ chức mã kho chưa hoàn toàn thống nhất. Một số ảnh đồng thời mang nhiều loại mã khác nhau, như mã kiểm kê, mã phim kính hoặc phim nhựa, hay mã của tài liệu gốc nếu được sao chụp từ các kho lưu trữ khác; nhiều ảnh lại không xác định được niên đại. Những khác biệt này khiến việc quản lý, chuẩn hóa dữ liệu và kết nối thông tin giữa các bộ sưu tập trở nên phức tạp hơn.
Thực tế, những năm gần đây, công tác bảo tồn tư liệu EFEO đã bước sang một giai đoạn mới với sự hỗ trợ của công nghệ số. Nhưng, đây mới chỉ là bước khởi đầu, vì một bức ảnh được số hóa chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ giá trị của nó đã được khai thác. "Đôi khi, việc xem xét lại những bức ảnh gần một thế kỷ sau còn cho phép chúng ta đưa ra những cách diễn giải hoặc những khám phá mới nhờ các hướng nghiên cứu hiện đại…", GS Philippe Le Failler nhận định.
Quan điểm ấy cũng được nhiều chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo quốc tế Sưu tập tư liệu ảnh EFEO - Tiềm năng di sản. Như phân tích, mỗi bức ảnh là một lát cắt của thời gian, ghi lại một khoảnh khắc của hơn một thế kỷ trước. Nhưng phía sau khuôn hình ấy còn là nhiều lớp thông tin khác: bối cảnh lịch sử, con người, tập quán sinh hoạt, kiến trúc, cảnh quan hay những chi tiết nhỏ tưởng như bình thường nhưng lại góp phần lý giải đời sống xã hội của một giai đoạn lịch sử.
Bởi thế, việc "đọc" lại một bức ảnh của EFEO ở thời điểm hiện tại, không thể chỉ là nhận diện nội dung hiện hữu trên khuôn hình. Xa hơn, công việc ấy cần gắn với quá trình đối chiếu với tài liệu lưu trữ, bản đồ, văn bản lịch sử và các nghiên cứu liên ngành để bổ chú, hoặc xác định lại địa danh, niên đại, nhân vật hay bối cảnh xuất hiện trong ảnh.
Và như vậy, sau hơn một thế kỷ, kho ảnh EFEO vẫn chưa thể khép lại hành trình của mình. Tại đó, bên cạnh những bức ảnh đã được lưu giữ, giá trị bền vững của nó còn nằm ở khả năng mở ra cơ hội để thế hệ hiện tại tiếp tục khám phá và hiểu sâu hơn về quá khứ.
Hơn 200.000 lượt truy cập kho ảnh EFEO trực tuyến
Năm 2023, Viện Thông tin Khoa học xã hội và Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) đưa vào vận hành cổng dữ liệu ảnh trực tuyến, kết nối hơn 40.000 bức ảnh từ hai kho tư liệu vốn bị chia tách bởi lịch sử. Đến nay, hệ thống đã ghi nhận hơn 200.000 lượt truy cập và khai thác thông tin; riêng 5 tháng đầu năm 2026 có hơn 52.000 lượt người xem. Những con số này cho thấy kho ảnh EFEO đang từng bước vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu chuyên sâu, trở thành nguồn tư liệu phục vụ giáo dục, truyền thông và phổ biến tri thức cho cộng đồng.
(Còn tiếp)