Trong kỷ nguyên phát triển mới, báo chí không chỉ đưa tin, phản ánh, giám sát và định hướng dư luận; báo chí còn là một chủ thể quan trọng của công nghiệp văn hóa.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, báo chí không chỉ đưa tin, phản ánh, giám sát và định hướng dư luận; báo chí còn là một chủ thể quan trọng của công nghiệp văn hóa. Từ tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết 28 của Quốc hội về phát triển văn hóa, đến những hiện tượng văn hóa đại chúng như MV Come My Way của Sơn Tùng M-TP, có thể thấy một yêu cầu mới đang đặt ra: báo chí phải trở thành cầu nối giữa chính sách và đời sống, giữa bản sắc và sáng tạo, giữa giá trị Việt Nam và thị trường văn hóa toàn cầu.
Có một thời gian dài, khi nói đến báo chí và văn hóa, chúng ta thường nghĩ đến chức năng tuyên truyền, cổ vũ, phê bình, giới thiệu tác phẩm, tôn vinh nghệ sĩ, phản ánh đời sống văn hóa ở cơ sở. Đó là những nhiệm vụ rất quan trọng và vẫn còn nguyên giá trị.
Nhưng trong bối cảnh hiện nay, nếu chỉ nhìn báo chí như "người đưa tin" về văn hóa thì chưa đủ. Báo chí, với năng lực phát hiện vấn đề, kể chuyện, tạo diễn đàn, hình thành dư luận xã hội và lan tỏa giá trị, đang trở thành một bộ phận hữu cơ của công nghiệp văn hóa.
Khi báo chí không chỉ kể chuyện văn hóa, mà tham gia kiến tạo giá trị văn hóa
Công nghiệp văn hóa không chỉ là phim ảnh, âm nhạc, thời trang, mỹ thuật, quảng cáo, trò chơi điện tử hay du lịch văn hóa. Công nghiệp văn hóa còn là toàn bộ quá trình biến tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm, thương hiệu và sức mạnh mềm.
Trong chuỗi giá trị ấy, báo chí giữ vai trò đặc biệt: phát hiện chất liệu, giải mã ý nghĩa, nâng đỡ sáng tạo, định hình thị hiếu, bảo vệ chuẩn mực, mở rộng thị trường và kết nối công chúng với sản phẩm văn hóa.

PGS-TS, ĐBQH Bùi Hoài Sơn phát biểu trong thảo luận ở tổ tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI, sáng 20/4/2026
Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt văn hóa trong cấu trúc phát triển quốc gia, nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa không chỉ như nền tảng tinh thần mà còn như nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển. Các bài viết giới thiệu Nghị quyết 80 cũng nhấn mạnh tư duy mới về văn hóa trong phát triển, trong đó có phát triển công nghiệp văn hóa, hội nhập văn hóa, hoàn thiện thể chế và khai thác sức mạnh mềm quốc gia.
Nghị quyết 28 của Quốc hội tiếp tục thể chế hóa tinh thần đó, tạo cơ sở chính sách để văn hóa được đầu tư đúng mức, có cơ chế đặc thù, có không gian sáng tạo, có chính sách cho nhân lực, thiết chế, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số.
Trong mạch tư duy ấy, báo chí cần được nhìn nhận như một hạ tầng mềm của công nghiệp văn hóa. Hạ tầng ấy không phải là nhà xưởng, sân khấu, trường quay hay nền tảng số, mà là niềm tin xã hội, năng lực truyền thông, khả năng kể chuyện quốc gia, khả năng tạo biểu tượng và khả năng làm cho những giá trị văn hóa trở nên gần gũi, hấp dẫn, có sức sống trong đời sống đương đại.
Một di sản nếu chỉ nằm trong hồ sơ, bảo tàng, đình chùa, lễ hội hay ký ức cộng đồng thì vẫn là tài sản quý. Nhưng để di sản ấy trở thành nguồn lực phát triển, nó cần được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đặt vào bối cảnh mới, kết nối với công chúng mới. Báo chí chính là một trong những lực lượng có thể làm điều đó một cách nhanh nhạy, có trách nhiệm và có chiều sâu.
Một tác phẩm âm nhạc nếu chỉ dừng ở lượt xem, lượt nghe, tranh luận khen chê trên mạng xã hội thì có thể tạo hiệu ứng nhất thời. Nhưng nếu báo chí biết phân tích đúng, đặt tác phẩm vào câu chuyện lớn hơn về bản sắc, sáng tạo, thị trường, trách nhiệm nghệ sĩ và chiến lược quảng bá văn hóa quốc gia, thì một sản phẩm giải trí có thể trở thành điểm khởi đầu cho một cuộc đối thoại xã hội có ý nghĩa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh rằng văn hóa là sức mạnh mềm, là "năng lượng gốc" vô tận của dân tộc Việt Nam; đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh. Từ gợi mở đó, có thể thấy báo chí không thể đứng ngoài tiến trình biến "năng lượng gốc" ấy thành động lực phát triển. Báo chí phải góp phần làm cho văn hóa không chỉ được gìn giữ, mà còn được sáng tạo; không chỉ được tự hào, mà còn được tiêu dùng, được chia sẻ, được xuất khẩu, được định vị trên bản đồ thế giới.
Ở đây, trách nhiệm của báo chí không phải là tô hồng mọi hiện tượng văn hóa đại chúng, cũng không phải là khắt khe đến mức bóp nghẹt sáng tạo. Trách nhiệm của báo chí là tạo ra một môi trường đối thoại lành mạnh, nơi cái mới được khuyến khích, cái sai được nhắc nhở, cái đẹp được nâng đỡ, cái lệch chuẩn được phân tích thấu đáo, cái có tiềm năng được nhìn nhận bằng tầm nhìn phát triển.
Trong công nghiệp văn hóa, giá trị không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng, mà còn nằm ở câu chuyện xung quanh sản phẩm đó. Một bộ phim hay cần có phê bình điện ảnh chuyên nghiệp. Một chương trình nghệ thuật cần có truyền thông đủ chiều sâu. Một sản phẩm âm nhạc khai thác chất liệu dân tộc cần được phân tích bằng hiểu biết văn hóa, chứ không chỉ bằng ngôn ngữ thị trường. Một lễ hội truyền thống muốn đến với du khách trẻ cần được báo chí kể lại bằng cả tri thức, cảm xúc và công nghệ.
Chính vì vậy, báo chí phải vượt qua cách tiếp cận "đưa tin sự kiện" để bước sang cách tiếp cận "kiến tạo hệ sinh thái". Nghĩa là không chỉ hỏi hôm nay có chương trình gì, nghệ sĩ nào xuất hiện, tác phẩm nào gây tranh cãi; mà còn phải hỏi: sản phẩm này đóng góp gì cho bản sắc Việt Nam? Nó mở ra thị trường nào? Nó giúp người trẻ hiểu thêm điều gì về văn hóa dân tộc? Nó có thể trở thành nguồn cảm hứng cho du lịch, thời trang, thiết kế, giáo dục, truyền thông quốc tế hay không? Và quan trọng hơn, nó có làm cho công chúng tự hào hơn, hiểu sâu hơn, ứng xử văn minh hơn với văn hóa của mình hay không?
Một nền công nghiệp văn hóa mạnh không thể thiếu một nền báo chí văn hóa mạnh. Báo chí văn hóa mạnh không phải là báo chí chỉ biết khen, cũng không phải là báo chí chỉ thích phê phán. Đó là báo chí có tri thức, có bản lĩnh, có mỹ cảm, có trách nhiệm xã hội và có năng lực chuyển hóa thông tin thành giá trị.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn (trái) và Tổng Giám đốc VTV Nguyễn Thanh Lâm và trao giải "Khát vọng Dế mèn cho tác giả Thiếu nhi" cho họa sĩ "nhí" Nguyễn Đăng Hải Nam. Ảnh: Hoàng Hiếu – TTXVN
Từ Come My Way đến câu chuyện lớn hơn: báo chí phải nâng hiện tượng thành nhận thức phát triển
MV Come My Way của Sơn Tùng M-TP là một ví dụ đáng chú ý để nhìn vào mối quan hệ giữa báo chí, nghệ sĩ, công chúng và công nghiệp văn hóa. Dù mỗi người có thể có cảm nhận khác nhau về âm nhạc, hình ảnh, phục trang hay cách sử dụng biểu tượng văn hóa trong MV, không thể phủ nhận rằng sản phẩm này đã tạo ra một không gian thảo luận rộng rãi về việc đưa chất liệu truyền thống vào ngôn ngữ giải trí hiện đại.
Điều đáng quan tâm không chỉ là MV ấy đẹp hay chưa đẹp, đúng hay chưa đúng, gây thích thú hay gây tranh luận. Điều đáng quan tâm hơn là vì sao một sản phẩm âm nhạc đại chúng lại có thể khiến công chúng nói nhiều về chim Lạc, trống đồng, biểu tượng dân tộc, tinh thần truyền thống, ranh giới sáng tạo và trách nhiệm văn hóa của nghệ sĩ. Đó chính là lúc báo chí cần xuất hiện không phải như người "bắt lỗi" vội vàng, cũng không phải như người "cổ vũ" dễ dãi, mà như một chủ thể phân tích, dẫn dắt và nâng tầm đối thoại.
Ở góc độ công nghiệp văn hóa, hiện tượng này cho thấy một điều rất quan trọng: văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu hấp dẫn đối với giới trẻ nếu được xử lý bằng ngôn ngữ đương đại. Người trẻ không quay lưng với truyền thống. Họ chỉ cần những cách tiếp cận mới, những hình thức biểu đạt mới, những sản phẩm đủ hấp dẫn để bước vào đời sống của họ. Một biểu tượng xưa, nếu được đặt trong âm nhạc, thời trang, điện ảnh, trò chơi, thiết kế, trình diễn sân khấu hay trải nghiệm số, có thể bước ra khỏi không gian bảo tồn để trở thành một phần của đời sống sáng tạo hôm nay.
Nhưng chính ở đây cũng xuất hiện thách thức. Khi sử dụng biểu tượng văn hóa dân tộc trong sản phẩm giải trí, nghệ sĩ không chỉ sử dụng một chất liệu thẩm mỹ. Họ đang chạm vào ký ức cộng đồng, vào niềm tự hào dân tộc, vào những lớp nghĩa thiêng liêng đã được tích tụ qua lịch sử. Vì vậy, sáng tạo cần tự do, nhưng tự do ấy phải đi cùng tri thức. Sáng tạo cần cá tính, nhưng cá tính ấy phải biết đối thoại với cộng đồng. Sáng tạo cần táo bạo, nhưng táo bạo không đồng nghĩa với tùy tiện.
Báo chí trong những trường hợp như vậy cần giúp xã hội phân biệt rõ giữa đổi mới và lai căng, giữa cách tân và làm méo mó, giữa khai thác biểu tượng và thương mại hóa thô thiển, giữa tranh luận văn minh và công kích cá nhân. Nếu báo chí chỉ chạy theo tranh cãi, giật tít cực đoan, khuếch đại sự phẫn nộ, thì một hiện tượng văn hóa có thể bị kéo xuống thành cuộc va chạm cảm xúc. Nhưng nếu báo chí biết đặt câu chuyện trong nền tảng chính sách, lịch sử biểu tượng, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, thì chính hiện tượng ấy có thể trở thành bài học xã hội bổ ích.
Trường hợp Sơn Tùng M-TP cũng gợi mở một vấn đề khác: nghệ sĩ trẻ, người nổi tiếng, KOL, nhà sản xuất nội dung, đạo diễn MV, nhà thiết kế thời trang, chuyên gia truyền thông, nền tảng số và báo chí đang cùng tham gia vào một hệ sinh thái sáng tạo. Trong hệ sinh thái ấy, báo chí không chỉ là người quan sát bên ngoài. Báo chí có thể thúc đẩy các chuẩn mực nghề nghiệp, khuyến khích nghệ sĩ tìm đến chuyên gia văn hóa trước khi sử dụng biểu tượng truyền thống, cổ vũ doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc cho sản phẩm văn hóa, đồng thời giúp công chúng tiếp nhận cái mới với tâm thế cởi mở nhưng có hiểu biết.

MV "Come My Way" của Sơn Tùng M-TP là một ví dụ đáng chú ý để nhìn vào mối quan hệ giữa báo chí, nghệ sĩ, công chúng và công nghiệp văn hóa
Báo chí cần đồng hành với chính sách
Đó cũng là lý do Nghị quyết 80 và Nghị quyết 28 có ý nghĩa rất lớn. Các nghị quyết này không chỉ nói về bảo tồn, mà còn mở ra tư duy phát triển; không chỉ nói về ngân sách, mà còn nói về cơ chế; không chỉ nói về thiết chế, mà còn nói về công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, nguồn lực xã hội, nhân lực sáng tạo và môi trường văn hóa. Khi chính sách đã mở đường, báo chí cần đi cùng chính sách bằng năng lực truyền thông chính sách, phản biện chính sách và thúc đẩy chính sách đi vào đời sống.
Trước hết, báo chí cần làm tốt vai trò giải thích chính sách. Nghị quyết dù đúng và hay đến đâu, nếu không được diễn giải dễ hiểu, gần gũi, gắn với lợi ích của người dân, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà đầu tư và địa phương, thì rất khó tạo thành chuyển động xã hội. Báo chí phải giúp công chúng hiểu vì sao đầu tư cho văn hóa không phải là chi tiêu phụ, mà là đầu tư cho con người, cho bản sắc, cho sức cạnh tranh quốc gia.
"Báo chí không chỉ viết về chuyển đổi số, mà chính báo chí phải chuyển đổi số. Báo chí không chỉ nói về sáng tạo, mà chính báo chí phải sáng tạo. Báo chí không chỉ kêu gọi bảo vệ bản quyền, mà chính báo chí phải sống được bằng bản quyền và giá trị nội dung chất lượng cao" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
Thứ hai, báo chí cần phát hiện và lan tỏa các mô hình tốt. Một không gian sáng tạo ở Hà Nội, một lễ hội được tổ chức văn minh, một làng nghề biết kể chuyện bằng công nghệ số, một MV khai thác chất liệu truyền thống, một bảo tàng đổi mới trải nghiệm, một địa phương biết biến di sản thành sinh kế bền vững – tất cả đều cần được báo chí nâng đỡ bằng những bài viết có chiều sâu, để cái tốt không bị chìm khuất trong dòng tin tiêu cực.
Thứ ba, báo chí cần tham gia bảo vệ môi trường sáng tạo lành mạnh. Công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải có bản quyền, có đạo đức nghề nghiệp, có chuẩn mực ứng xử, có phê bình chuyên nghiệp và có công chúng trưởng thành. Báo chí phải lên tiếng trước hành vi sao chép, ăn cắp ý tưởng, xúc phạm biểu tượng, dung tục hóa văn hóa, nhưng cũng phải bảo vệ những tìm tòi sáng tạo chân thành, tránh tâm lý "sợ sai" khiến nghệ sĩ không dám chạm vào truyền thống.
Thứ tư, báo chí cần tự đổi mới để trở thành một ngành sáng tạo đúng nghĩa. Mỗi bài báo hay, mỗi phóng sự tốt, mỗi podcast có chiều sâu, mỗi video giải thích văn hóa hấp dẫn, mỗi chuyên trang dữ liệu về di sản, mỗi sản phẩm báo chí đa phương tiện đều có thể là một sản phẩm công nghiệp văn hóa. Báo chí không chỉ viết về chuyển đổi số, mà chính báo chí phải chuyển đổi số. Báo chí không chỉ nói về sáng tạo, mà chính báo chí phải sáng tạo. Báo chí không chỉ kêu gọi bảo vệ bản quyền, mà chính báo chí phải sống được bằng bản quyền và giá trị nội dung chất lượng cao.
Nhìn từ Come My Way, chúng ta thấy một tín hiệu đáng mừng: chất liệu Việt Nam vẫn có sức hấp dẫn, biểu tượng Việt Nam vẫn có khả năng khơi gợi thảo luận, nghệ sĩ Việt Nam vẫn có tiềm năng tạo nên sản phẩm có tầm lan tỏa. Nhưng để những hiện tượng ấy không chỉ là những đợt sóng ngắn trên mạng xã hội, cần có một hệ sinh thái bền vững hơn. Trong hệ sinh thái ấy, Nhà nước kiến tạo thể chế; doanh nghiệp đầu tư; nghệ sĩ sáng tạo; công chúng tiếp nhận; nhà trường bồi đắp thẩm mỹ; còn báo chí giữ vai trò kết nối, soi chiếu, nâng đỡ và định hướng.
Báo chí và công nghiệp văn hóa vì vậy không phải là hai đường thẳng song song. Đó là hai dòng chảy gặp nhau trong khát vọng chung: làm cho văn hóa Việt Nam trở thành sức mạnh phát triển đất nước. Một nền báo chí giàu trách nhiệm sẽ giúp công nghiệp văn hóa đi đúng hướng. Một nền công nghiệp văn hóa năng động sẽ đem lại cho báo chí những chất liệu mới, công chúng mới, phương thức kể chuyện mới và nguồn lực mới.
***
Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đặt ra khát vọng phát triển nhanh và bền vững, văn hóa không thể đứng bên lề kinh tế, và báo chí không thể đứng bên lề công nghiệp văn hóa. Ngòi bút hôm nay không chỉ ghi lại những gì đang diễn ra. Ngòi bút còn có thể mở đường cho cái đẹp, bảo vệ cái đúng, khơi dậy niềm tự hào, nuôi dưỡng thị hiếu, kết nối sáng tạo và góp phần đưa Việt Nam ra thế giới bằng những câu chuyện văn hóa thuyết phục, nhân văn và giàu bản sắc.
Đó cũng là cách để báo chí tiếp tục xứng đáng với sứ mệnh của mình: không chỉ là tiếng nói của thời đại, mà còn là người đồng hành tin cậy trong hành trình biến văn hóa thành sức mạnh mềm, thành nguồn lực nội sinh, thành động lực phát triển của quốc gia.