Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực ngày 1/4/2026 đưa ra quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực ngày 1/4/2026 đưa ra quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ.
Điều này mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp trong việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm công cụ tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, việc định giá loại tài sản "vô hình" này vẫn là bài toán phức tạp bởi chịu tác động đồng thời của yếu tố pháp lý, thương mại và khả năng mang lại lợi nhuận trong tương lai.
Thời hạn của tài sản trí tuệ
Tài sản trí tuệ đang trở thành nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản trí tuệ bao gồm nhiều nhóm đối tượng như quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và giống cây trồng… Mỗi loại hình có đặc điểm pháp lý, thời hạn bảo hộ và khả năng thương mại hóa khác nhau, từ đó dẫn tới cách thức định giá cũng khác nhau.

Ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết: Một trong những đặc thù của tài sản trí tuệ là chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật sở hữu trí tuệ, giá trị của tài sản trí tuệ phụ thuộc lớn vào phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ. Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đối năm 2025, sáng chế được bảo hộ trong 20 năm kể từ ngày nộp đơn và không được gia hạn. Kiểu dáng công nghiệp có thời hạn bảo hộ tối đa 15 năm. Nhãn hiệu được bảo hộ 10 năm nhưng có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp. Đặc biệt, bí mật kinh doanh có thể được bảo hộ không xác định thời hạn nếu vẫn duy trì được tính bảo mật. Chính yếu tố thời hạn này ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị kinh tế của tài sản.
Cũng theo ông Trần Lê Hồng, một sáng chế chỉ còn vài năm bảo hộ sẽ có giá trị thương mại khác so với sáng chế khi mới đăng ký. Nhưng một nhãn hiệu nổi tiếng được sử dụng ổn định nhiều năm thường có giá trị cao hơn nhiều so với nhãn hiệu mới xuất hiện trên thị trường. Vì vậy, ngoài thời hạn bảo hộ, điều kiện pháp lý của từng đối tượng cũng đóng vai trò quan trọng như sáng chế được bảo hộ phải đáp ứng tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp; Kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới và tính sáng tạo. Đối với chỉ dẫn địa lý, sản phẩm phải gắn với danh tiếng hoặc đặc tính đặc thù của vùng địa lý. Những yếu tố này quyết định khả năng khai thác thương mại và mức độ độc quyền của tài sản trí tuệ, qua đó nâng cao khả năng chuyển hóa quyền sở hữu trí tuệ thành tài sản có thể định giá, chuyển nhượng, thế chấp.

Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải (OIC New). Ảnh: VTC News
Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải (OIC New), người sở hữu hơn 80 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích khẳng định: Giá trị tài sản trí tuệ không chỉ phụ thuộc vào "sáng chế gì" mà phụ thuộc vào "quyền độc quyền còn lại bao lâu", "độ rộng phạm vi bảo hộ đến đâu", "có khai thác được trong sản phẩm cụ thể hay không" và "rủi ro pháp lý hay khả năng thực thi" ra sao. Thực tế, sáng chế thường tạo lợi thế cạnh tranh bằng độc quyền khai thác trong một khoảng thời gian nhất định nên thời hạn còn lại của sáng chế quyết định "độ dài" của độc quyền. Sáng chế còn hạn dài thường cho giá trị cao hơn đáng kể so với sáng chế gần hết hạn, ngay cả khi phần "độ rộng claim" cũng tương tự. Bên cạnh đó, phạm vi bảo hộ càng rộng, càng tạo lợi thế cạnh tranh.
"Chạm" tới ngưỡng giá trị
Các chuyên gia sở hữu trí tuệ nhấn mạnh: Giá trị của một thương hiệu phụ thuộc vào uy tín doanh nghiệp, mức độ nhận diện của người tiêu dùng, thị phần và khả năng tạo doanh thu. Trong khi đó, giá trị của sáng chế lại phụ thuộc vào tính ứng dụng, tiềm năng thương mại hóa, khả năng thay thế công nghệ và mức độ cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, không ít tài sản trí tuệ có giá trị rất lớn trên giấy nhưng khó khai thác trong thực tế và ngược lại, nhiều ý tưởng tưởng chừng đơn giản lại tạo doanh thu khổng lồ nhờ chiến lược kinh doanh phù hợp.
Khó khăn lớn nhất trong định giá tài sản trí tuệ là dự báo dòng tiền tương lai, một sáng chế có thể tạo lợi nhuận lớn nếu được thị trường chấp nhận, nhưng cũng có thể nhanh chóng lỗi thời khi công nghệ thay đổi. Mặc dù vai trò của tài sản trí tuệ ngày càng lớn nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc quản trị và định giá tài sản trí tuệ khi chưa xây dựng chiến lược bảo hộ thương hiệu, sáng chế hay bí mật kinh doanh.

Luật mới hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ. Ảnh minh hoạ: Tạp chí Kinh tế - tài chính online
Theo ông Lưu Hải Minh, tại Việt Nam, thị trường giao dịch tài sản trí tuệ chưa phát triển mạnh nên việc tìm dữ liệu tham chiếu để định giá tài sản trí tuệ còn khó khăn. Doanh nghiệp chưa có thói quen ghi nhận và quản trị tài sản trí tuệ như một loại tài sản chiến lược. Bên cạnh đó, rủi ro pháp lý xảy ra khi tài sản trí tuệ đang tranh chấp hoặc chưa được bảo hộ sẽ có giá trị thấp hơn đáng kể do nguy cơ phát sinh kiện tụng và hạn chế khả năng khai thác.
Quá trình định giá tài sản đạt hiệu quả khi "chạm" tới ngưỡng giá trị, việc định giá tài sản cần theo các phương pháp để tránh việc định giá tài sản trí tuệ mang tính ảo khi đưa ra con số rất cao, không được chấp nhận và không thể thương mại hóa. Con số đưa ra phải theo dữ liệu đầu vào như: dự kiến mức doanh thu tương lai, tỉ lệ tiền bản quyền, lãnh thổ, hiệu lực, thời hạn còn lại của sáng chế... Bên cạnh đó, tránh việc định giá ảo để tạo "giá trị dùng để góp vốn/IPO/tài sản bảo đảm". Việc định giá tài sản trí tuệ không "chạm" tới ngưỡng sẽ tạo xung đột lợi ích khi bị thổi phồng giá trị.
Các chuyên gia cho rằng trong thời gian tới, nhu cầu định giá tài sản trí tuệ tại Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng, đặc biệt trong các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, góp vốn và mua bán doanh nghiệp. Để thúc đẩy định giá tài sản trí tuệ cũng như thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, Việt Nam cần hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng cơ sở dữ liệu giao dịch tài sản trí tuệ, các chính sách khuyến khích doanh nghiệp, chủ sở hữu tài sản trí tuệ đầu tư, phát triển và định giá tài sản trí tuệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cần quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm định viên, đội ngũ chuyên trách đảm nhiệm kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, kết hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tăng cường tiếp xúc doanh nghiệp và các tổ chức, đơn vị có chức năng định giá nhằm kịp thời nắm bắt, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn.
Trong kỷ nguyên số, giá trị lớn nhất của doanh nghiệp nằm ở ý tưởng, công nghệ và thương hiệu doanh nghiệp sở hữu, khi sở hữu trí tuệ "chạm" tới ngưỡng giá trị sẽ quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp.