Nửa thế kỷ kể từ ngày Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Thành phố này luôn khẳng định vị thế của một trung tâm văn hóa nghệ thuật năng động, nhạy bén và tiên phong bậc nhất cả nước.
Nửa thế kỷ kể từ ngày Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Thành phố này luôn khẳng định vị thế của một trung tâm văn hóa nghệ thuật năng động, nhạy bén và tiên phong bậc nhất cả nước.
Dòng chảy nghệ thuật nơi đây không chỉ gìn giữ vẹn nguyên mạch ngầm di sản hào hùng, mà còn chuyển hóa kho tàng ấy thành nguồn lực nội sinh để định hình một "đô thị sáng tạo", làm "bệ phóng" của ngành công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số.
Điểm tựa di sản
Nhìn lại hành trình 50 năm qua, dòng chảy nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh luôn mang trên mình sứ mệnh đặc biệt thiêng liêng. Giai đoạn đầu sau ngày giải phóng, văn nghệ sĩ Thành phố đã bắt tay ngay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nếp sống văn hóa mới và cổ vũ tinh thần lao động, tái thiết đất nước. Từ "chiếc nôi" này, các làn sóng âm nhạc chính trị, cải lương, kịch nghệ đương đại liên tục ra đời, biến nơi đây thành "thượng nguồn" đổi mới của dòng chảy nghệ thuật cả nước. Những tác phẩm ấy đã trở thành ký ức lịch sử vô giá về sự vươn mình của một Thành phố Anh hùng.

Các đại biểu tham quan triển lãm ảnh về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định – Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Thu Hương - TTXVN
Đó là một "Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh" (Xuân Hồng) rực rỡ khúc khải hoàn ca ngày thống nhất. Hay giai điệu chiến thắng hòa nhịp cùng làn sóng âm nhạc chính trị sôi động qua "Ơi cuộc sống mến thương" (Nguyễn Ngọc Thiện) – tiếng hát đại diện cho tinh thần lạc quan của thế hệ trẻ hăng say lao động.
Lý giải về sức sống này, các chuyên gia chỉ rõ, nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh mang trọn đặc trưng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ với tính mở và năng lực thích ứng cao. Cốt cách văn hóa linh hoạt, luôn dung nạp cái mới nhưng không mất bản sắc đã giúp các loại hình từ đờn ca tài tử, cải lương cho đến các trào lưu hiện đại liên tục tự làm mới mình.
Sự tiếp nối các giá trị này khẳng định tầm nhìn nhất quán của Đảng bộ và chính quyền Thành phố, đặc biệt là trong việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Tiến sỹ Đỗ Thanh Hương (Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) phân tích, các quan điểm về lực lượng lãnh đạo và tham gia vào sự nghiệp văn hóa khởi nguồn từ Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, khi được nâng tầm lên tinh thần Nghị quyết 80, đã tạo cơ sở vững chắc cho việc phối hợp giữa các chủ thể quản lý, sáng tạo, kinh doanh và tiêu dùng.
Kho tàng di sản 50 năm của Thành phố không bị đóng băng, mà luôn vận động để tạo ra giá trị mới. Để văn hóa thực sự là nền tảng cho công nghiệp văn hóa, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, cần dịch chuyển từ tư duy "bảo tồn tĩnh" sang "bảo tồn thông qua phát triển". Di sản phải là nguồn lực sáng tạo tham gia trực tiếp vào đời sống đương đại, chỉ bền vững khi tồn tại sống động trong lòng cộng đồng.

TP Hồ Chí Minh: Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Ánh sao độc lập”. Trong ảnh: Các tiết mục tại điểm cầu phường Bình Dương đã tái hiện khí thế hào hùng của dân tộc. Ảnh: Huyền Trang - TTXVN
Bổ sung góc nhìn này, Tiến sỹ Trần Thanh Tuấn (Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) lưu ý toàn bộ chuỗi giá trị nghệ thuật cần dịch chuyển từ tư duy khai thác di sản bề nổi sang phát triển dựa trên di sản. Ký ức 50 năm qua phải là nền tảng cấu thành bản sắc vững chắc, giúp định hình giá trị nhân văn nội tại cho các sản phẩm nghệ thuật, từ đó thiết lập các giới hạn can thiệp phù hợp để bảo vệ tính toàn vẹn của công nghiệp văn hóa khi thương mại hóa và số hóa.
Số hóa mạnh mẽ
Trong kỷ nguyên số, không gian nghệ thuật của Thành phố Hồ Chí Minh đang chứng kiến cuộc dịch chuyển công nghệ mạnh mẽ. Sức mạnh của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng xuyên biên giới đang mở ra cơ hội để các nghệ sĩ trẻ tái cấu trúc các giá trị truyền thống. Từ cải lương, đờn ca tài tử đến kiến trúc, thời trang… đều đang được "nhào nặn" dưới lăng kính của nghệ thuật số (Digital Art), điện ảnh và âm nhạc đương đại, tạo nên diện mạo văn hóa vừa bản sắc vừa thời thượng.
Chuyển đổi số đã trở thành động lực then chốt thúc đẩy công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80. Việc ứng dụng công nghệ không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu chiến lược, giúp giải phóng nghệ thuật truyền thống khỏi giới hạn không gian vật lý, biến di sản thành tài nguyên tái sinh vô tận phục vụ kinh tế sáng tạo.
Tuy nhiên, việc chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo là yêu cầu cấp thiết. Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa khẳng định, bản chất của công nghiệp văn hóa là nâng tầm giá trị văn hóa thông qua sáng tạo và công nghệ, làm cho truyền thống được "tái sinh" trong hình thức mới.

TP. Hồ Chí Minh khai mạc Triển lãm “Báo Xuân tiến bước thời đại số”. Trong ảnh: Du khách tham quan Triển lãm. Ảnh: Thu Hương - TTXVN
Sự chuyển dịch này đòi hỏi sự vận động đồng bộ của hệ thống thể chế. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam nhận định tư duy phát triển công nghiệp văn hóa đang chuyển từ tiếp cận ngành truyền thống sang hệ sinh thái sáng tạo mở gắn với dữ liệu, nền tảng số và sức mạnh mềm quốc gia. Yêu cầu hoàn thiện thể chế cần chuyển mạnh sang kiến tạo năng lực quản trị hệ sinh thái dữ liệu sáng tạo trong cả môi trường thực lẫn môi trường số.
Song hành với dòng chảy số, hành lang pháp lý về sở hữu trí tuệ chính là chiếc khiên bảo vệ tài sản văn hóa trên không gian mạng. Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khẳng định việc hoàn thiện hành lang pháp lý là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 80, cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến, xây dựng cơ chế đặc thù, ưu đãi và tăng cường các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.
Số hóa di sản không đơn thuần là "đưa tư liệu lên mạng" một cách cơ học. Dưới sự dẫn dắt của thể chế kiến tạo, sự chủ động của hệ sinh thái sáng tạo và cơ chế bảo hộ chặt chẽ, các giá trị di sản sẽ được tái sinh sống động, giữ vững chủ quyền văn hóa số trên toàn cầu.
Vươn tầm quốc tế
Khi di sản hào hùng kết hợp cùng công nghệ, nghệ thuật Việt Nam chính thức bước vào đường đua lớn để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Văn hóa không còn là lĩnh vực chỉ thuần túy nhận ngân sách, mà đã trở thành nguồn lực kinh tế mạnh mẽ, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng thông qua việc kiến tạo các không gian sáng tạo và phát triển thị trường đầy tiềm năng.
Chiến lược này được khẳng định qua những bước đi vĩ mô của Thành phố. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, Thành phố hiện đi đầu cả nước về công nghiệp sáng tạo nội dung số. Với đội ngũ hơn 6.700 hội viên chuyên ngành cùng đông đảo lực lượng nghệ sĩ tự do, kết hợp với hệ thống di sản 50 năm đặc sắc, đây chính là tài nguyên quý giá để đưa công nghiệp văn hóa thành "con át chủ bài" trong nền kinh tế sáng tạo. Trong bối cảnh Thành phố hướng tới một "siêu đô thị", tích hợp các quy hoạch mới đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành văn hóa đang đứng trước cơ hội lớn.

Chương trình nghệ thuật "Thành phố Hồ Chí Minh – Rạng rỡ kỷ nguyên mới". Trong ảnh: Tiết mục "Lưu dấu vàng son" do nhóm nghệ sỹ hát bội trình bày. Ảnh: Thu Hương - TTXVN
Tuy nhiên, để vươn ra biển lớn, những "nút thắt" về hành lang pháp lý, bản quyền số và cơ chế tự chủ vẫn cần những giải pháp quản trị hiện đại. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Phương chỉ rõ, điểm nghẽn lớn nhất là sự thiếu hụt các cơ chế đột phá để giải phóng sức sáng tạo. Hành lang pháp lý chưa bắt kịp tốc độ thay đổi của kỷ nguyên số, dẫn đến tình trạng xâm phạm bản quyền phức tạp, làm tổn thương lợi ích của các chủ thể.
Các chuyên gia đề xuất Thành phố thiết lập hệ thống chính sách ưu đãi vượt trội cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ bản quyền số, chuyển từ tư duy kiểm soát sang kiến tạo hệ sinh thái. Mô hình quản trị của các nhà hát, bảo tàng công lập cần được tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, trao quyền tự chủ thực chất để liên doanh, liên kết với tư nhân tổ chức các chương trình chất lượng cao.
Để giải quyết bài toán nguồn nhân lực, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Nhân khẳng định công nghiệp văn hóa kỷ nguyên số không thể vận hành bằng tư duy đơn ngành cũ kỹ. Nhà trường và xã hội cần phối hợp xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao theo hướng tiếp cận liên ngành.
Đồng bộ với đó, bài toán liên kết vùng cần một tầm nhìn năng động. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Huỳnh Văn Tới (Thành viên Hội đồng Khoa học Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) phân tích, tư duy quản trị hiện đại không được phép bó hẹp trong ranh giới hành chính một địa phương, mà cần chủ động đẩy mạnh liên kết vùng và kết nối quốc tế. Di sản 50 năm của Thành phố chỉ thực sự tạo đột phá khi đặt trong thế liên kết chặt chẽ với hệ sinh thái văn hóa Đông Nam Bộ và toàn khu vực phía Nam, biến mạch nguồn lịch sử thành chuỗi cung ứng dịch vụ xuyên biên giới, giúp doanh nghiệp tự tin định vị thương hiệu trên bản đồ toàn cầu.
Hành trình 50 năm dòng chảy nghệ thuật của Thành phố Hồ Chí Minh là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một đô thị kiên cường. Kế thừa di sản hào hùng làm điểm tựa bản sắc, dòng chảy nghệ thuật của Thành phố mang tên Bác hôm nay đang sải cánh cùng công nghệ, khẳng định vị thế trung tâm sáng tạo, xứng đáng là ngọn cờ đầu lan tỏa "sức mạnh mềm" Việt Nam ra thế giới.