"Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học không phải là quyết định mang tính áp đặt, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng
"Việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học không phải là quyết định mang tính áp đặt, mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính", Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.
E10 là bước tiếp theo trong lộ trình đã được hoạch định hơn 10 năm
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam không phải là chính sách mới hay thay đổi đột ngột. Từ năm 2012, Chính phủ đã ban hành quyết định về áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, trong đó đặt mục tiêu tiến tới sử dụng xăng E5 và E10 trên phạm vi toàn quốc.
Sau nhiều năm thử nghiệm và hoàn thiện thị trường, xăng E5 đã được phân phối rộng rãi từ năm 2018. Việc triển khai xăng E10 từ năm 2026 là bước tiếp theo trong tiến trình chuyển đổi năng lượng, phù hợp với các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, an ninh năng lượng và cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.
Theo Thứ trưởng, trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, phát triển nhiên liệu sinh học là xu hướng tất yếu nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động năng lượng toàn cầu.
"Việc triển khai xăng sinh học không nhằm hạn chế quyền lựa chọn của người dân mà xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải", Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.
Cũng theo Thứ trưởng, giai đoạn vừa qua Việt Nam duy trì song song xăng khoáng và xăng sinh học nhằm tạo thời gian để người dân làm quen, doanh nghiệp hoàn thiện hạ tầng và thị trường dần thích nghi.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân: Phát triển nhiên liệu sinh học là xu hướng tất yếu nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động năng lượng toàn cầu.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc kéo dài quá nhiều chủng loại nhiên liệu cùng lúc sẽ làm tăng đáng kể chi phí logistics, tồn chứa và phân phối. Điều này không chỉ gây áp lực cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu mà còn làm giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi xanh.
Trong khi đó, xăng E10 đã được đánh giá tương thích với phần lớn phương tiện lưu hành hiện nay. Nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil, Thái Lan hay Philippines đã sử dụng E10 phổ biến trong nhiều năm mà không ghi nhận các vấn đề kỹ thuật đáng kể.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương, sử dụng xăng E10 không chỉ giúp giảm phát thải khí độc hại mà còn giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu, đồng thời thúc đẩy phát triển ngành sản xuất ethanol và tạo đầu ra cho nông nghiệp trong nước.
Hạ tầng và nguồn cung đã sẵn sàng
Một trong những vấn đề được dư luận quan tâm là khả năng đáp ứng nguồn cung khi triển khai E10 trên toàn quốc.
Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, công tác chuẩn bị đến nay cơ bản đã hoàn thiện ở cả ba khâu: nguồn cung ethanol E100, năng lực phối trộn và hệ thống phân phối bán lẻ.
Với nhu cầu tiêu thụ xăng khoảng 1 triệu m3/tháng, lượng ethanol cần thiết vào khoảng 100.000 m3/tháng. Trong đó, nguồn sản xuất trong nước hiện đáp ứng khoảng 25.000 m3, phần còn lại được bổ sung từ nhập khẩu.
Ở khâu phối trộn, tính đến cuối tháng 5/2026, cả nước có 13/26 thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu đã và đang đầu tư hệ thống trạm phối trộn xăng sinh học với tổng công suất phối trộn đạt trên 1 triệu m3/tháng, vượt nhu cầu xăng dầu cả nước (khoảng 1 triệu m3/tháng). Trong đó, có 3 doanh nghiệp đã được cấp phép phối trộn với công suất khoảng 890.000 m³/tháng và 10 doanh nghiệp đang chờ được cấp giấy phép để pha chế, phối trộn xăng E10 với công suất khoảng 297.600 m3/tháng.
Ngoài ra, Nhà máy lọc dầu Bình Sơn cũng có thể thực hiện phối trộn xăng sinh học E5, E10 với công suất khoảng 20.000 - 40.000 m3/tháng trong tháng 5/2026 và 70.000 - 90.000 m3/tháng từ tháng 6/2026 khi có yêu cầu.
Hạ tầng phân phối xăng dầu là khâu cuối trong chuỗi cung ứng, giữ vai trò quyết định trong việc đưa xăng sinh học E10 ra thị trường. Hiện nay, hệ thống phân phối đã được đầu tư đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, gồm kho đầu mối, cửa hàng bán lẻ và hệ thống logistics. Vì vậy, việc chuyển đổi từ xăng khoáng RON95 sang E10 chủ yếu là nâng cấp, điều chỉnh vận hành, không yêu cầu đầu tư hạ tầng mới quy mô lớn. Về cơ bản, hạ tầng phân phối tới người dùng đã sẵn sàng thực hiện lộ trình.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương, đây là lợi thế quan trọng giúp quá trình chuyển đổi diễn ra ổn định, hạn chế tối đa nguy cơ gián đoạn nguồn cung.
E10 giúp giảm phát thải và tăng tự chủ năng lượng
Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, lợi ích lớn nhất của xăng E10 không chỉ nằm ở khía cạnh bảo vệ môi trường mà còn ở bài toán bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài.
Xăng sinh học chứa ethanol được sản xuất từ nguyên liệu sinh khối như sắn, ngô, mía… giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu. Khi tỷ lệ sử dụng nhiên liệu sinh học tăng lên, Việt Nam có thể đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, giảm áp lực nhập khẩu xăng dầu và tăng khả năng tự chủ trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động khó lường.
Bên cạnh đó, việc phát triển ngành ethanol còn tạo động lực cho nông nghiệp, công nghiệp chế biến và phục hồi các nhà máy nhiên liệu sinh học từng đầu tư trước đây.
Về môi trường, E10 giúp giảm lượng phát thải CO₂, CO và các hợp chất chưa cháy hết trong quá trình vận hành động cơ, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân: Lợi ích lớn nhất của xăng E10 không chỉ nằm ở khía cạnh bảo vệ môi trường mà còn ở bài toán bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài.
Liên quan tới những lo ngại về việc E10 có thể gây ảnh hưởng tới động cơ, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, Bộ Công Thương đã phối hợp với các trường đại học, chuyên gia kỹ thuật, hiệp hội ô tô và xe máy để đánh giá mức độ tương thích của phương tiện.
Kết quả rà soát cho thấy, phần lớn ô tô và xe máy đang lưu hành tại Việt Nam đều có thể sử dụng xăng E10 theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Đặc biệt, các phương tiện sản xuất trong những năm gần đây cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn sử dụng nhiên liệu sinh học theo các chuẩn khí thải Euro 3, Euro 4 và Euro 5.
Trong quá trình thí điểm E10 tại một số doanh nghiệp đầu mối lớn, đến nay chưa ghi nhận phản ánh có cơ sở khoa học hoặc kết luận kỹ thuật chính thức nào cho thấy E10 gây ảnh hưởng phổ biến tới động cơ phương tiện.
Tuy nhiên, đối với một số xe quá cũ hoặc ít được bảo dưỡng, cơ quan quản lý khuyến cáo người dùng nên kiểm tra hệ thống nhiên liệu định kỳ để bảo đảm vận hành ổn định.
Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, lộ trình triển khai E10 vẫn song song duy trì xăng E5RON92 đến năm 2030 nhằm đáp ứng nhu cầu của các dòng phương tiện cũ hoặc chưa hoàn toàn tương thích với E10.
Theo Thứ trưởng, quan điểm xuyên suốt là phát triển nhiên liệu sinh học phải đi cùng yêu cầu bảo đảm an toàn kỹ thuật, ổn định thị trường và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra chất lượng nhiên liệu, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh truyền thông để người dân hiểu đúng về xăng sinh học, tránh bị ảnh hưởng bởi các thông tin chưa được kiểm chứng.
Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng đang trở thành xu thế toàn cầu, E10 được xem không chỉ là một loại nhiên liệu mới mà còn là bước chuyển quan trọng để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải và bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.
Bộ Công Thương đang nghiên cứu cơ chế tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ kỹ thuật cho người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn đầu triển khai thông qua các đầu mối quản lý, doanh nghiệp đầu mối xăng dầu và các kênh thông tin phù hợp.
Quan điểm của Bộ Công Thương là việc triển khai lộ trình nhiên liệu sinh học phải bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu chuyển đổi năng lượng xanh, bảo vệ môi trường, ổn định thị trường xăng dầu và quyền lợi chính đáng của người dân, doanh nghiệp.