Tôi quen biết nhà báo Trần Nhật Minh hơn hai chục năm trước. Hồi đó, Minh là phóng viên văn hóa của Đài Tiếng nói Việt Nam, độ tuổi ba mươi; còn tôi là phóng viên văn hóa của tờ QĐND, đã ngoại tứ tuần.
Tôi quen biết nhà báo Trần Nhật Minh hơn hai chục năm trước. Hồi đó, Minh là phóng viên văn hóa của Đài Tiếng nói Việt Nam, độ tuổi ba mươi; còn tôi là phóng viên văn hóa của tờ QĐND, đã ngoại tứ tuần. Quen nhưng không thân, không phải vì tuổi tác vênh nhau, mà vì tôi luôn e dè với dân Hà Nội. Trần Nhật Minh là "con nhà tông" ở phố cổ, bố mẹ đều là dân chữ nghĩa có tên tuổi. Còn tôi trọ trẹ nhà quê ra tỉnh…
1. Một thời gian sau, tôi chuyển sang bộ phận khác của bản báo, nên hầu như không gặp lại Trần Nhật Minh nữa. Thú thực là quên hẳn! Rồi một ngày cuối năm 2020, tôi gặp lại Trần Nhật Minh tại cuộc hội thảo khoa học toàn quốc về lý luận và phê bình văn học-nghệ thuật, tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh. Tôi là đại biểu có tham luận hội thảo, còn Minh là Trưởng Ban văn học-nghệ thuật (VOV6) của Đài TNVN, được mời với tư cách phóng viên. Ngay buổi chiều gặp nhau, Trần Nhật Minh đã hồ hởi thân mật chào hỏi tôi như cái hồi cả hai đều cùng "cày" tin văn hóa, như chưa hề ngót nghét hai chục năm biệt tăm nhau.

Tác giả Trần Nhật Minh
Tối ấy ở khách sạn, Minh tìm sang phòng tôi trò chuyện và tặng tôi tập tản văn Miền sau cánh cửa vừa xuất bản. Đêm ấy, tôi đọc một mạch gần hết tập sách của Trần Nhật Minh. Những con chữ trong Miền sau cánh cửa khiến tôi "chột dạ", hơi hơi ân hận. Thì ra, Trần Nhật Minh không chỉ là một lãng tử như nhiều "giai phố cổ" mà tôi từng biết; mặc dù càng ngày, cái dáng dấp của Minh trông càng "phủi", càng "phớt". Thì ra, Trần Nhật Minh không phải loại nhà báo "thời thượng" như nhiều phóng viên thời bàn phím mà tôi từng biết. Thì ra, bên trong cái bộ dạng "đáng ngại" kia là một cỗ máy nồi đồng cối đá, vận hành rất bền bỉ và nghiêm cẩn.
2. Trần Nhật Minh đọc, đi, ghi và viết rất chăm chỉ, rất… truyền thống. "Ghi" là kỹ năng không thể thiếu của người làm nghề chữ nghĩa. Kỹ năng ấy các đồng nghiệp trẻ hiện nay ít quan tâm, vì đã có điện thoại thông minh, nhưng tôi cam đoan rằng smartphone không thể có "bút lực" như việc ghi chép thủ công.
Đọc những trang viết của Trần Nhật Minh trong Miền sau cánh cửa, tôi cứ hình dung ra những trang ghi chép, khi vội vàng nguệch ngoạc, khi tỉ mỉ nắn nót, trong những cuốn sổ tay của anh. Cuốn nào cũng quăn góc sờn gáy, bìa bóng mồ hôi… Chính từ những trang ghi chép ấy, Trần Nhật Minh đã làm nên những trang viết khiến tôi phải "chột dạ, giật mình"…
Vâng, nếu không chịu đọc để tích lũy kiến văn, không chịu đi để mở rộng tầm nhìn, không quan sát sự vật và hiện tượng bằng kỹ năng chuyên nghiệp, không ghi chép cẩn thận những điều mắt thấy tai nghe và những suy luận cá nhân… thì làm sao có được những trang viết về những miền quê trong Nam ngoài Bắc, đọc cứ cuốn hút thun thút? Những bản làng, buôn sóc, miệt vườn, đảo nổi, đảo chìm… nhiều người đã viết, nhiều nơi tôi đã đến, thậm chí là thân thuộc. Thế mà đọc Minh, thấy quen mà lạ, thích thú với những phát hiện và nhận xét của tác giả.
Đã đành nhà báo thì được đi nhiều, nhưng với Trần Nhật Minh, mỗi lần đến với một miền quê, dường như là mỗi lần trải nghiệm, là dịp tìm hiểu một vỉa tầng văn hóa, để rồi cộng hưởng với những ký ức tiềm tàng mà bung ra thành những tản văn độc quyền không đụng hàng với ai.
Hà Nội trong tản văn của Trần Nhật Minh cũng thế! Các ông Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… và hậu sinh là những Nguyễn Ngọc Tiến, Đỗ Phấn, Đỗ Đức… cũng đã viết rất nhiều, rất hay về Hà Nội. Thế mà những phố Lãn Ông, Thuốc Bắc, Lò Rèn, Ô Quan Chưởng… của Trần Nhật Minh vẫn khiến một người hơn 40 năm công dân Hà Nội như tôi cũng phải ngậm ngùi thổn thức.
Này là những gánh hàng rong "tiếng rao như phận người, ám ảnh những đêm đông giá rét. Những hàng nước vối nóng, điếu cày kêu khắc khoải sân ga Hàng Cỏ. Những hàng phở gánh lấp ló lửa hồng, xuýt xoa niềm vui giản dị"... Này là "cô bé hàng xóm tóc bím dễ thương, cứ mỗi dịp đi qua hàng phở là phải đeo khẩu trang vì sợ… nước miếng rỉ ra"… Rồi "Bia đầu ô" thì cứ phải là thứ bia hơi, uống trong những chiếc cốc vại thủy tinh đùng đục, ngồi trên những chiếc ghế nhựa xập xệ vỉa hè… Và "những hôm mưa dầm gió bấc, mất điện, mái ngói thẫm buồn, căn gác như trôi ngoài bờ gió. Từng giọt nước mưa đọng trên vì kèo tí tách nhỏ xuống, tong tỏng gõ nhịp vào chiếc xô thủng"… Đấy là Hà Nội trong ký ức của cậu bé lớn lên trong thời bao cấp khốn khó nhưng đầy ắp tình người. Những con chữ của Minh như được chắt ra từ miền ký ức đẹp và buồn, rót lên những trang văn ẩn hiện trong màn khói sương hoài niệm…
"Ghi" là kỹ năng không thể thiếu của người làm nghề chữ nghĩa. Kỹ năng ấy các đồng nghiệp trẻ hiện nay ít quan tâm, vì đã có điện thoại thông minh, nhưng tôi cam đoan rằng smartphone không thể có "bút lực" như việc ghi chép thủ công.
3. Cảm nhận trên đây thêm một lần khẳng định, khi mới đây tôi được đọc tập tản văn thứ hai của Trần Nhật Minh: Những cuộc trà trên căn gác cũ. Căn gác ấy là "căn hộ" anh được sinh ra và lớn lên. Bố anh là nhà thơ Trần Nhật Lam, một trí thức Tây học nhưng thạo chữ Nho. Bạn bè ông phần lớn là những văn nghệ sĩ nổi tiếng. Họ quý mến ông nên "căn gác cũ" trở thành điểm tâm giao.
Và "mỗi lần có khách quý, tôi lại bỏ cuộc chơi con trẻ ngoài phố, về nhà hóng chuyện. Chuyện người lớn nhiều điều không hiểu hết, nhưng vẫn thích nghe"… Là Minh kể thế, nhưng đọc Những cuộc trà… thì thấy từ ngày đó "cu Minh" đã nghe rất chăm chú, quan sát rất kỹ lưỡng, ghi nhớ rất sâu sắc… Để rồi mấy chục năm sau, anh kể lại sinh động trong những áng tản văn tài hoa. "Nhà thơ Xuân Diệu đọc thơ say đắm, giọng miền Trung nằng nặng nghe không rõ, nhưng âm điệu thì đúng là thơ không lẫn vào đâu được" (…). "Nhà thơ xứ Nghệ Nguyễn Bùi Vợi đọc thơ và nói chuyện thơ cũng hay như Xuân Diệu. Giọng bình thơ của ông hóm hỉnh sâu cay, nối vào thơ những suy ngẫm cuộc đời" (…). "Nhà thơ Trúc Thông luôn khắt khe với bạn thơ trẻ, khắt khe với chính thơ mình một cách cực đoan" (…). "Vũ Quần Phương cũng là một cây nói chuyện thơ duyên dáng, bình thơ không thừa không thiếu"… v.v…
Còn nhiều tên tuổi nữa thường lui tới căn gác đó, như các vị: Trần Lê Văn, Vân Long, Ngô Văn Phú, Ngô Quân Miện, Thanh Hào, Mai Quốc Liên… Mỗi người một gương mặt, được Trần Nhật Minh "vẽ" theo ký ức. Nhiều người trong số đó tôi từng quen biết, nhưng không lột tả được trong chỉ một đôi câu như Trần Nhật Minh. Chẳng hạn nhà thơ Lê Đính Cánh "là người đi vững vàng "hai chân": bút ký và thơ lục bát. Giọng bút ký ùa vào từng trang pơ-luya đánh máy thời đó, ngập tràn hơi thở đời sống với những chuyến xuôi ngược"... Hoặc như Tô Hoài "là nhà văn của Hà Nội xưa cũ, nhưng lại gửi cả tình yêu của mình nơi Tây Bắc xa mờ"… Rồi Hoàng Nhuận Cầm "có một phẩm chất mà giới nghệ sĩ nhiều khi không mấy coi trọng; đó là sự đúng hẹn và chịu khó đọc, nghe người khác". Và nhà thơ "tiết canh", họa sĩ guốc mộc, Nghệ sĩ nhân dân Lê Huy Quang là mẫu người đa tài luôn có cái vẻ như đang không làm gì cả. Quả là những "điểm huyệt" chính xác vô cùng!
Không chỉ viết đúng, viết hay, đầy mỹ cảm và trọng thị về những tên tuổi của thế hệ cha chú, Trần Nhật Minh cũng rất dụng công khi viết về những văn nghệ sĩ là những đồng môn, đồng niên, đồng nghiệp, "đồng bọn" thân thiết, như: Lê Anh Hoài, Nguyễn Quang Hưng, Phùng Gia Thế, Đỗ Anh Vũ, Xuân Quang v.v… Với các đối tượng này, ngoài tài năng còn cần phải có tấm lòng rất quý mến mới "đọc vị" được nhau qua vài con chữ. Đó là họa sĩ Trần Thắng "như một ông giáo làng với con xe cũ, tải chở một khối suy tư"… Đó là Nguyễn Tiến Thanh, người có "giọng thơ không trộn lẫn, bởi anh có các loại vũ khí riêng: thơ tự do, thơ văn xuôi, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát… đủ cho "viên đạn thơ" găm trúng cái đích nhất quán"… Đó là nhà báo Nguyễn Tri Thức "trong phóng sự của anh có những đoạn khúc như tản văn. Và trong tản văn, anh cũng cài được những thông số đời thường để dẫn dắt cảm xúc"…
Những cuộc trà trên căn gác cũ còn có những trang viết đầy suy tư ngẫm ngợi về thế thái nhân tình, về bảo tồn văn hóa, về tâm linh, về môi sinh… và nhiều vấn đề khác, như: Thơ Xuân báo Tết, đờn ca tài tử, âm nhạc thị trường v.v… Nhưng ấn tượng hơn cả là những chân dung văn nghệ sĩ các thế hệ. Những bài viết ấy đã cùng với những trang văn thấm đẫm nhân tình trong Miền sau cánh cửa đã khiến tôi có cái cảm giác "chột dạ", rồi ân hận và nuối tiếc vì những "định kiến" tự ti với con trai Hà Nội, những "dị ứng" lạc hậu với các đồng nghiệp thế hệ bàn phím, "a còng"…