"Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng". Những câu thơ trong bài "Ba mươi năm đời ta có Đảng" của nhà thơ Tố Hữu đã đi vào lòng bao thế hệ người, tạo niềm tự hào mãnh liệt cho hàng triệu trái tim về một Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
"Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng". Những câu thơ trong bài "Ba mươi năm đời ta có Đảng" của nhà thơ Tố Hữu đã đi vào lòng bao thế hệ người, tạo niềm tự hào mãnh liệt cho hàng triệu trái tim về một Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam.
Quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Sau 8 năm thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, “kháng chiến, kiến quốc”, quân và dân ta đã lập nên nhiều chiến công to lớn trên các chiến trường, đẩy thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động. Với tham vọng xoay chuyển tình thế, tháng 7/1953 thực dân Pháp thực hiện Kế hoạch Nava, tập trung binh lực, hòng giành thắng lợi trong vòng 18 tháng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đánh bại nỗ lực chiến tranh cuối cùng của thực dân Pháp, buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng và tạo điều kiện "chín muồi" cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi quyết định..
Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào-Việt, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng. Đối với thực dân Pháp, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược, cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam Á.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: TTXVN
Thấy rõ vị trí quan trọng đó, ngày 20/11/1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm được cho là mạnh nhất Đông Dương. Tập đoàn gồm 40 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, chia thành 3 phân khu. Mỗi cứ điểm đều có những tuyến chiến hào lượn quanh và giao thông hào nối các cứ điểm với nhau, cùng nhiều lớp rào dây thép gai vây bọc. Ngoài ra, còn có các bãi mìn dày đặc và lực lượng cơ động với hệ thống hỏa lực nhiều tầng và rất mạnh. 80% lực lượng không quân ở Đông Dương và nhiều loại vũ khí hiện đại khác của Pháp và Mỹ đã được đưa vào tác chiến ở Điện Biên Phủ.
Muốn tiến công vào Điện Biên Phủ, bộ đội ta phải vượt qua vòng ngoài là hỏa lực máy bay, đại bác, xe tăng và sự phản kích của quân cơ động, kể cả quân dù, trước khi đối đầu với vòng trong là hỏa lực bắn thẳng, hàng rào dây thép gai và bãi mìn của các cứ điểm. Với số quân đông, hoả lực mạnh, công sự vững chắc, các tướng tá Pháp và Mỹ xác nhận đây là "một tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "một pháo đài quân sự bất khả xâm phạm".
Tuy nhiên, Bộ Chính trị đã phân tích: Đối với địch, Điện Biên Phủ tuy là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng cũng có nhược điểm lớn là các cứ điểm tách rời nhau. Nhược điểm này cho phép ta tập trung sức mạnh tiêu diệt và bẻ rời từng cứ điểm để làm suy yếu địch. Thêm vào đó, Điện Biên Phủ nằm giữa núi rừng Tây Bắc, rất xa căn cứ hậu phương, mọi việc tăng viện và tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Nếu đường không bị cô lập hay cắt đứt, địch sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu.
Về phía ta: bộ đội chủ lực của ta đã có những tiến bộ lớn về chiến dịch và chiến thuật, chất lượng chiến đấu của quân ta đã được nâng cao cùng với sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật. Vấn đề đường sá, tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn lớn, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, ta có thể huy động tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho bằng được”.
Ngay sau đó, Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ được thành lập, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng. Chính phủ quyết định tổ chức Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương (do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch) và Hội đồng cung cấp Mặt trận các cấp.

Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh họp bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Ảnh: TTXVN
Thay đổi phương châm tác chiến và giành chiến thắng vang dội
Với khẩu hiệu “Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”, nhân dân ta đã dồn hết sức người, sức của cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa. Trên 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.
Lúc đầu ta chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh”, tập trung toàn bộ quân chủ lực, tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng, mở cuộc tiến công từ một số hướng, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thời gian 3 đêm 2 ngày. Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị, Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo bám sát quân địch, theo dõi từng động tĩnh của chúng và phát hiện hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn, gây khó khăn lớn cho bộ đội ta.
Sáng ngày 26/1/1954, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định lịch sử: tạm hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm “Đánh chắc tiến chắc”. Tập thể Đảng ủy cũng tán thành với sự thay đổi này và nhất trí rằng: thay đổi phương châm tác chiến là một quyết tâm lớn, thể hiện sự quán triệt tư tưởng chỉ đạo “đánh chắc thắng” của Trung ương.
Đầu tháng 3/1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch đã hoàn thành.
Chiến dịch Điện Biên Phủ được triển khai qua ba đợt tấn công, trong đó hai đợt sau diễn ra đặc biệt ác liệt, quyết định cục diện chiến trường.

21.000 xe đạp thồ, 261.500 dân công cùng các loại ô tô, tàu, thuyền, lừa, ngựa…ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược lên mặt trận Điện Biên Phủ. Sự đóng góp to lớn của lực lượng dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến dịch là một trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Đợt 1 (13/3 đến 17/3/1954) mở màn bằng pháo kích vào sân bay Mường Thanh. Chiều 13/3, theo lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, pháo binh ta đồng loạt bắn vào cứ điểm Him Lam, mở đầu tiến công. Quân ta nhanh chóng tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Độc Lập, buộc Bản Kéo đầu hàng, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc tập đoàn cứ điểm, loại khỏi vòng chiến hơn 2.000 địch, uy hiếp trực tiếp sân bay Mường Thanh.
Đợt 2 (30/3 đến 30/4/1954) là giai đoạn dài ngày, quyết liệt nhất. Ta tiến công các cứ điểm phía Đông, thắt chặt vòng vây, khống chế sân bay, cắt đứt tiếp viện. Hai bên giằng co từng tấc đất, tiêu biểu là các điểm cao C1 và A1 với thời gian chiến đấu kéo dài hàng chục ngày. Kết thúc đợt này, khu trung tâm đã nằm trong tầm hỏa lực của ta, quân Pháp rơi vào thế bị động, tinh thần suy sụp.
Đợt 3 (1/5 đến 7/5/1954) là tổng công kích. Ta đồng loạt tiến công, đánh chiếm các cao điểm còn lại, trọng tâm là A1, đồng thời tiêu diệt nhiều cứ điểm phía Đông và Tây. Ngay đêm đầu, nhiều vị trí như C1, 505, 505A bị quét sạch; hệ thống phòng ngự địch bị chia cắt. Chiến thuật đào hào, “đánh lấn” phát huy hiệu quả, đưa bộ đội áp sát sở chỉ huy địch. Đêm 6/5, ta làm chủ A1. Chiều 7/5, quân ta chiếm hầm chỉ huy, buộc tướng Christian de Castries cùng toàn bộ lực lượng đầu hàng.

Ngày 22/4/1954, quân ta đã bất ngờ tấn công vị trí 206 và tiêu diệt hoàn toàn vị trí này, đây là vị trí cuối cùng ở phía Tây sân bay Mường Thanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Sau 56 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt và bắt sống hơn 16.000 quân địch, đập tan hoàn toàn tập đoàn cứ điểm, làm nên thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn. Với chiến thắng này, ta đã đập tan mọi âm mưu chiến lược quân sự của thực dân Pháp, sự can thiệp của Mỹ, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Geneve (tháng 7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ 3 nước Đông Dương; kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 9 năm (1945-1954) của dân tộc Việt Nam.
Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng điển hình nhất trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại. Do đó, ba tiếng “Điện Biên Phủ” đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố, mà quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, với một bộ chỉ huy thao lược, tài ba gồm những cá nhân xuất sắc. Sự lãnh đạo đó không những thể hiện ở đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, ở sự chỉ đạo chiến lược và chiến thuật tài tình trên chiến trường mà điều quan trọng còn thể hiện ở vai trò tiên phong hy sinh, gương mẫu của những người đảng viên. Trước những thử thách ác liệt, biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước, vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong chiến đấu, không quản gian khổ, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng.
Chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại còn có nguồn gốc từ truyền thống quý báu của dân tộc, đã được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí quật cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo, đoàn kết nhân ái của toàn thể nhân dân. Phát huy những truyền thống đó, quân và dân ta đã làm nên những kỳ tích - khắc phục được những khó khăn tưởng như không thể vượt qua, làm được những việc tưởng chừng không thể làm nổi, tạo nên bước tiến vượt bậc về khả năng và sức mạnh chiến đấu để đánh bại mọi kẻ thù.
Chính tướng bại trận Henri Navarre - Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - đã phải thừa nhận rằng: “Sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong sức mạnh huyền thoại của dòng giống người Việt, lòng yêu nước và nhất là ý thức xã hội mà họ đã xây dựng được... Chính phủ Việt Minh đưa cuộc chiến vào tất cả các lĩnh vực - chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội và quân sự - tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ”.

Ngày 7/5/1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, toàn bộ tập đòan cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị quân ta tiêu diệt, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" đang phấp phới bay trên nóc hầm Tướng De Castries. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Đặc biệt hơn nữa, sức mạnh làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, từ quân đến dân, từ hậu phương đến tiền tuyến. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Alain Ruscio - sử gia người Pháp đã nhận xét: “Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai, sát cánh...”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi của khát vọng độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, mà còn là sự cổ vũ mạnh mẽ cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, hàng loạt nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh lần lượt giành được độc lập, với hình thức và mức độ khác nhau; phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển ngày càng sâu rộng.
Chia sẻ với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Liên bang Nga nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2024), Giáo sư Vladimir Kolotov, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg, đánh giá: Với chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành hình mẫu cho rất nhiều dân tộc còn bị áp bức trên thế giới, trở thành nguồn động viên và khích lệ đối với con đường giải phóng dân tộc của các nước.
Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua, Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên giá trị lịch sử và thời đại, là minh chứng hùng hồn cho đường lối đúng đắn của Đảng, cho bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của Nhân dân Việt Nam. Và bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về tư duy chiến lược và quyết tâm “đánh chắc thắng” vẫn còn nguyên ý nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.