Việc chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ bổ sung một ngày nghỉ, mà còn khẳng định vị thế của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.
Việc chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ bổ sung một ngày nghỉ, mà còn khẳng định vị thế của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.
Đây được kỳ vọng trở thành "điểm hẹn tinh thần" của toàn xã hội, mở ra cơ hội để văn hóa thấm sâu vào đời sống, trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, đại biểu chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã trả lời phỏng vấn phóng viên Thông tấn xã Việt Nam xoay quanh vấn đề này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn. Ảnh: Diệu Thúy - TTXVN
* Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có quy định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động sẽ được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Đây là một bước đi mang ý nghĩa biểu tượng lớn. Theo ông, thông điệp lớn nhất của quyết định này là gì? Điều này có ý nghĩa và tác động như thế nào đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân?
- Theo tôi, thông điệp lớn nhất của việc dành ngày 24/11 hằng năm làm Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm một ngày nghỉ có hưởng lương, mà sâu xa hơn, đó là sự khẳng định rất rõ của Đảng và Nhà nước rằng văn hóa phải được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội trong chiến lược phát triển đất nước. Từ nhiều năm nay, chúng ta vẫn nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, là động lực phát triển. Nhưng muốn tư tưởng ấy đi vào đời sống thì phải được thể hiện bằng những quyết sách cụ thể, dễ nhận biết, dễ cảm nhận. Việc đề xuất chọn một ngày chính thức để toàn xã hội cùng hướng về văn hóa, cùng nghỉ ngơi, cùng tham gia, cùng thụ hưởng, chính là một biểu hiện sinh động của tư duy ấy.
Ý nghĩa của quyết định này, theo tôi, rất rộng. Trước hết, nó tạo ra một "điểm hẹn tinh thần" của quốc gia, nơi mỗi người dân có cơ hội trở về với căn cước văn hóa của mình, với gia đình, cộng đồng, truyền thống và những giá trị tốt đẹp làm nên bản lĩnh Việt Nam. Trong một xã hội hiện đại, nhịp sống gấp gáp khiến con người dễ bị cuốn vào vòng quay mưu sinh, tiêu dùng và công nghệ, thì một ngày được dành riêng cho văn hóa chính là lời nhắc nhở rằng con người không chỉ sống bằng công việc, mà còn sống bằng ký ức, bằng niềm tin, bằng thẩm mỹ, bằng đạo lý và bằng nhu cầu được thuộc về một cộng đồng có bản sắc.
Thứ hai, nếu được tổ chức tốt, ngày này sẽ góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận và thụ hưởng văn hóa cho đông đảo người dân, nhất là trẻ em, người lao động, người ở vùng sâu, vùng xa, những nhóm nhiều khi chưa có điều kiện bước vào nhà hát, bảo tàng, thư viện, trung tâm nghệ thuật hay các không gian sáng tạo. Chính đề xuất chính sách cũng gắn ngày này với khả năng miễn, giảm phí tại các thiết chế văn hóa, thể thao công lập, cho thấy định hướng rất rõ là đưa văn hóa đến gần dân hơn.

Trình diễn ánh sáng và 3D tại cầu Trung Đạo trong Đại Nội Huế về đêm. Ảnh: Nguyên Lý - TTXVN
Tác động lâu dài, theo tôi, không dừng ở một ngày nghỉ. Nếu làm đúng, đây sẽ là một quyết định có khả năng nâng tầm nhận thức xã hội về văn hóa. Nó giúp chúng ta chuyển từ chỗ coi văn hóa là "phần mềm mềm yếu" sang nhìn nhận văn hóa như một năng lực kiến tạo con người, điều tiết phát triển và củng cố sức bền dân tộc. Một xã hội biết dành một ngày chính thức để tôn vinh văn hóa là một xã hội hiểu rằng phát triển không thể chỉ đo bằng GDP, mà còn phải đo bằng mức độ hạnh phúc, mức độ gắn kết cộng đồng, khả năng tự hào về bản sắc và chất lượng đời sống tinh thần của người dân.
Vì thế, tôi cho rằng đây là một quyết định mang ý nghĩa biểu tượng rất lớn, nhưng giá trị của nó không dừng ở biểu tượng. Nếu được tiếp tục thể chế hóa tốt, nó có thể trở thành một cú hích cho cả đời sống văn hóa tinh thần và cho tư duy phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
* Vậy làm thế nào để Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 không chỉ dừng lại ở một ngày nghỉ mang tính hình thức, mà thực sự trở thành động lực thúc đẩy các giá trị văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, thưa ông?
- Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là phải tránh tâm lý coi đây đơn thuần là một "ngày nghỉ lễ mới". Nếu chỉ dừng ở việc nghỉ làm mà không có nội dung văn hóa đủ hấp dẫn, đủ gần gũi, đủ lay động và đủ thiết thực, thì ý nghĩa lớn của chính sách rất dễ bị thu hẹp.
Muốn ngày 24/11 thực sự sống trong lòng xã hội, chúng ta cần tổ chức theo tinh thần: không hành chính hóa văn hóa, mà xã hội hóa trải nghiệm văn hóa. Tức là phải để người dân thực sự được tham gia, được cảm thấy văn hóa có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình, chứ không phải đứng ngoài xem một vài hoạt động nghi thức. Từ các thảo luận tại Quốc hội, nhiều đại biểu cũng nhấn mạnh rằng Ngày Văn hóa Việt Nam phải được nâng tầm ý nghĩa, tránh hình thức và phải tạo ra sức lan tỏa thực chất trong cộng đồng.
Theo tôi, trước hết cần thiết kế ngày này như một chuỗi hoạt động mở, chứ không chỉ là một sự kiện trong một buổi. Ở tầm quốc gia, có thể phát động Tuần lễ Văn hóa Việt Nam xoay quanh ngày 24/11, kết nối từ trung ương đến địa phương. Ở tầm địa phương, phải trao quyền sáng tạo cho từng nơi kể câu chuyện văn hóa của mình: Hà Nội có thể khai thác di sản Thăng Long, Huế có thể đậm sắc thái cung đình và nghệ thuật truyền thống, Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhấn mạnh tinh thần giao thoa, năng động, sáng tạo; các vùng dân tộc thiểu số có thể giới thiệu không gian văn hóa bản địa...
Điều quan trọng là mỗi địa phương phải làm cho người dân thấy đó là ngày của chính mình, không phải ngày của riêng ngành văn hóa. Các thiết chế công lập như bảo tàng, thư viện, di tích, nhà hát, trung tâm văn hóa nên mở cửa rộng rãi, có chương trình miễn phí hoặc ưu đãi, có hoạt động trải nghiệm dành cho gia đình, học sinh, thanh niên, công nhân, người cao tuổi. Đó cũng là tinh thần được đặt ra trong đề xuất chính sách khi nhấn mạnh việc nâng cao thụ hưởng văn hóa cho người dân.
Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Muốn các giá trị văn hóa thấm sâu vào đời sống, cần gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với những nội dung rất đời thường: văn hóa ứng xử trong gia đình, trong công sở, trong trường học, trong giao thông, trên không gian số; khuyến đọc; giáo dục di sản; tôn vinh nghệ nhân, nghệ sĩ, thầy cô, nhà nghiên cứu, người gìn giữ bản sắc ở cộng đồng; các chương trình đưa nghệ thuật đến khu công nghiệp, vùng nông thôn, khu ký túc xá, khu dân cư mới.

Canh hát quan họ trên ao đình tại Hội Lim thuộc thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh - Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Tôi cho rằng chính qua những việc tưởng như nhỏ ấy, văn hóa mới thực sự đi vào đời sống. Bởi văn hóa không chỉ là biểu diễn hay lễ hội. Văn hóa là cách một con người nói năng, ứng xử, làm việc, tôn trọng người khác, gìn giữ môi trường, nâng niu truyền thống và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Nếu Ngày Văn hóa Việt Nam khơi dậy được những điều đó, thì ngày này sẽ không hề hình thức. Nó sẽ trở thành một cơ chế mềm để bồi đắp phẩm chất xã hội, làm cho văn hóa hiện diện trong hành vi thường ngày của mỗi người. Và khi ấy, ngày 24/11 sẽ không chỉ là một ngày trong năm, mà sẽ trở thành một điểm tựa để nuôi dưỡng cả một nếp sống văn hóa của quốc gia.
* Theo ông, cần làm gì để các giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được "chuyển hóa" thành nguồn lực phát triển, đặc biệt thông qua các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo?
- Theo tôi, đây chính là một trong những câu hỏi trọng tâm nhất của phát triển văn hóa hiện nay. Chúng ta đã đi qua một giai đoạn khá dài coi bảo tồn là nhiệm vụ trung tâm, nhưng bối cảnh mới đòi hỏi một bước tiến xa hơn: bảo tồn để phát huy, phát huy để tạo giá trị mới, và tạo giá trị mới để quay trở lại nuôi dưỡng bảo tồn. Nếu chỉ gìn giữ văn hóa theo cách cất vào kho, khóa trong bảo tàng, hoặc giữ nguyên như một ký ức đứng yên, thì rất nhiều giá trị quý báu sẽ khó sống bền trong xã hội hiện đại.
Muốn văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, điều đầu tiên là phải thay đổi tư duy: văn hóa không chỉ là di sản của quá khứ, mà còn là nguyên liệu của tương lai. Tinh thần này cũng phù hợp với Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, khi xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển và một lĩnh vực cần được thấm sâu vào mọi chiến lược, quy hoạch, chính sách.
Muốn "chuyển hóa" được, trước hết phải xây dựng được hệ sinh thái kết nối giữa di sản, sáng tạo, thị trường và công nghệ. Một làng nghề không chỉ để tham quan, mà có thể trở thành trung tâm thiết kế, trải nghiệm, giáo dục thẩm mỹ, du lịch cộng đồng. Một chất liệu dân gian không chỉ nằm trong nghiên cứu học thuật, mà có thể đi vào âm nhạc đương đại, điện ảnh, sân khấu, thời trang, hoạt hình, trò chơi điện tử, mỹ thuật ứng dụng. Một di tích không chỉ là điểm đến ngắm nhìn, mà có thể trở thành không gian kể chuyện bằng công nghệ số, bằng tour đêm, bằng nghệ thuật trình diễn, bằng giáo dục trải nghiệm cho giới trẻ.

Việc gìn giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian đặc trưng của dân tộc Lự, một trong 14 dân tộc rất ít người ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường, Lai Châu, thông qua các điệu múa, điệu xòe, làn điệu dân ca, dân vũ gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày đã góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Quý Trung – TTXVN
Nói cách khác, phải làm cho di sản bước vào đời sống hôm nay bằng ngôn ngữ hôm nay. Đó là cách để văn hóa không bị đóng khung trong quá khứ mà tiếp tục sinh sôi trong hiện tại.
Tuy nhiên, chuyển hóa văn hóa thành nguồn lực phát triển không có nghĩa là thương mại hóa bằng mọi giá. Tôi cho rằng ở đây cần một nguyên tắc rất rõ: khai thác nhưng không làm hỏng, phát huy nhưng không làm nghèo đi ý nghĩa gốc, sáng tạo nhưng không đánh mất căn cước. Do đó, Nhà nước phải giữ vai trò kiến tạo khung pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng, mở rộng thị trường và điều tiết để bảo đảm hài hòa giữa kinh tế và giá trị.
Khi có chính sách đúng, doanh nghiệp sẽ đầu tư; khi có thị trường, người trẻ sẽ sáng tạo; khi có sản phẩm tốt, thế giới sẽ chú ý; và khi văn hóa tạo ra việc làm, tạo ra thu nhập, tạo ra thương hiệu, thì chính văn hóa sẽ có thêm nguồn lực để tiếp tục được bảo tồn và nâng cao. Đó là vòng tuần hoàn lành mạnh mà chúng ta cần xây dựng.
Tôi tin rằng lợi thế của Việt Nam nằm ở sự phong phú của bản sắc, còn chìa khóa của chúng ta nằm ở năng lực kể lại bản sắc ấy bằng các hình thức hiện đại, có sức cạnh tranh toàn cầu.
* Trân trọng cảm ơn ông!