thethaovanhoa.vn

Hành trình "Lôi vũ" trên các sân khấu Việt Nam

Tạ Anh Vũ 20/04/2026 19:22 GMT+7

Trong dòng chảy của sân khấu hiện đại châu Á, hiếm có tác phẩm nào sở hữu sức sống mãnh liệt và khả năng thẩm thấu xuyên văn hóa như Lôi vũ của Tào Ngu (1910 - 1996). Tại Việt Nam, Lôi vũ đã trở thành một biểu tượng, một "thước đo" bản lĩnh cho bất kỳ đơn vị nghệ thuật hoặc nghệ sĩ nào muốn khẳng định đẳng cấp.

Trong dòng chảy của sân khấu hiện đại châu Á, hiếm có tác phẩm nào sở hữu sức sống mãnh liệt và khả năng thẩm thấu xuyên văn hóa như Lôi vũ của Tào Ngu (1910 - 1996). Tại Việt Nam, Lôi vũ đã trở thành một biểu tượng, một "thước đo" bản lĩnh cho bất kỳ đơn vị nghệ thuật hoặc nghệ sĩ nào muốn khẳng định đẳng cấp.

1. Mới đây, đêm 18/4 tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang (TP.HCM), sân khấu lại một lần nữa rung động bởi "cơn mưa giông" Lôi vũ từ đoàn của Vũ Luân. Quyết định không sử dụng bản chuyển thể kinh điển của Thế Châu, mà thay bằng kịch bản mới của soạn giả Quốc Khánh, cho thấy khát vọng sáng tạo của ê-kíp.

Dưới sự dàn dựng của NSND Trần Ngọc Giàu, vở cải lương mang một diện mạo trẻ trung hơn, với tiết tấu nhanh, kết hợp âm nhạc và vũ đạo lung linh. Vũ Luân trong vai Chu Phác Viên đã có một sự "chuyển mình" ngoạn mục. Anh từ bỏ hình ảnh kép đẹp để hóa thân thành một kép lão, với nội tâm phức tạp. Chu Phác Viên của Vũ Luân bớt phần lạnh lùng, mà tình cảm hơn, nỗi niềm hơn, qua những phân đoạn quan tâm con cái hoặc sự giày vò trước kỷ vật của người vợ quá cố.

Hành trình "Lôi vũ" trên các sân khấu Việt Nam - Ảnh 1.

Võ Ngọc Quyền (vai Thị Bình, trái) và Vũ Luân (Chu Phác Viên) trong phiên bản cải lương “Lôi vũ” vừa công diễn

Chính vì thế, người xem không thấy dáng dấp của kẻ ác do cố tình toan tính, mà hiện lên với cái ác "tự nhiên" nảy sinh từ định kiến của thời đại. Đó là cái ác của một người luôn tin rằng vị thế thượng tầng cho phép mình có đặc quyền mặc định được đối xử khắc nghiệt với người khác như một lẽ đương nhiên.

Chu Phác Viên không chỉ là người cai trị Chu gia, ông ta còn là nạn nhân đầu tiên của cái trật tự phong kiến mà ông ta cố công gìn giữ. Khán giả chợt nhận ra nhân vật này cũng đang đau khổ trong cái "chuồng cọp" vàng son của chính mình, và sợ hãi cái hệ thống đã nhào nặn ra con người độc đoán ấy.

Dàn nghệ sĩ trẻ như Võ Ngọc Quyền (vai Phồn Y), Bích Trâm (Thị Bình), Biện Thuy (Tứ Phượng), Vương Quan Trí (Chu Xung) hoặc Nguyễn Văn Hợp (Chu Bình) đều cho thấy sự nỗ lực vượt bậc. Họ ca diễn chừng mực, không lên gân, giữ được cái hồn của nhân vật, nhưng vẫn mang theo hơi thở của thế hệ nghệ sĩ hôm nay.

Hành trình "Lôi vũ" trên các sân khấu Việt Nam - Ảnh 2.

Vũ Luân (vai Chu Phác Viên) và Nguyễn Văn Hợp (Chu Bình) trong phiên bản cải lương “Lôi vũ” vừa công diễn

2. Vở kịch ra đời vào những năm 1930, được xem là bản án lương tâm, một tiếng thét xé lòng về xã hội đầy biến động. Sức hấp dẫn của Lôi vũ (nghĩa là giông tố) nằm ở cấu trúc kịch bản chặt chẽ, với những xung đột tâm lý cực hạn. Tào Ngu đã nén toàn bộ bi kịch của hai thế hệ, hai tầng lớp xã hội vào một ngày giông bão tại Chu gia.

Ở đó, những bí mật kinh hoàng về huyết thống, những mối tình trái luân thường và sự độc đoán của kẻ cầm quyền đã tạo nên một áp lực khủng khiếp, chờ chực bùng nổ. Chính sức nặng tự thân của kịch bản đã khiến tác phẩm này được ưu ái dàn dựng lại vô số lần, từ những vở diễn chính quy đến bài thi tốt nghiệp cho học viên sân khấu.

Ngược dòng thời gian về thập niên 1970 - 1980, Đoàn kịch nói Kim Cương đã đóng dấu tên tuổi mình với một bản dựng đậm chất tự sự, nhấn mạnh vào thân phận người phụ nữ. NSND Bảy Nam trong vai Thị Bình đã trở thành một biểu tượng khó thay thế. Với chiếc áo cũ kỹ và đôi mắt u uất, bà không diễn mà đã "sống" trọn vẹn nỗi đau của một người đàn bà bị vùi dập bởi định mệnh. Bên cạnh đó, "kỳ nữ" Kim Cương trong vai Phồn Y đã lột tả xuất sắc sự phản kháng tuyệt vọng của một trái tim khao khát yêu thương trong lồng cũi Chu gia.

Hành trình "Lôi vũ" trên các sân khấu Việt Nam - Ảnh 3.

Biện Thuy (vai Lỗ Tứ Phượng) và Vương Quan Trí (Chu Xung) trong phiên bản cải lương “Lôi vũ” vừa công diễn

Một chi tiết thú vị là sự chuyển giao thế hệ ngay trong chính một nghệ sĩ: NSƯT Huỳnh Thanh Trà. Thời trẻ, ông là một Chu Bình hào hoa, "người tình sân khấu" lý tưởng của Kim Cương. Nhưng về sau, ông lại kế thừa vai diễn Chu Phác Viên từ NSƯT Vân Hùng, tạo nên một ông chủ họ Chu đầy uy quyền, chỉ cần giọng nói rền vang từ hậu trường cũng đủ khiến người xem rùng mình.

Huỳnh Thanh Trà từng tâm sự, Chu Phác Viên là vai diễn ông đắc ý nhất, bởi nó chứa đựng sự giằng xé giữa vẻ độc đoán bên ngoài và một tâm hồn chung tình mù quáng với quá khứ.

Trong hồi ký của mình, Kim Cương tiết lộ việc mời quái kiệt Ba Vân vào vai Lỗ Quý là một "chiêu" độc đáo. Ở tuổi ngoài 70, Ba Vân đã tạo nên một gã đầy tớ già đời, xảo quyệt, nhưng vô cùng sống động, xác lập một chuẩn mực về vai tính cách cho các thế hệ sau.

Cuối thập niên 1980, bản dựng tại sân khấu nhỏ 5B của đạo diễn Hoa Hạ lại mang đến một làn gió mới mẻ. Đây là phiên bản tập hợp "thế hệ vàng" như NSND Việt Anh, NSƯT Minh Trang, NSƯT Thành Lộc, NSƯT Hữu Châu, NSND Hồng Vân... Một Chu Phác Viên gian xảo qua cách thoại rít từ kẽ răng của Việt Anh đối trọng hoàn hảo với một Phồn Y ma mị của Minh Trang. Đặc biệt, vai Chu Xung của Thành Lộc đã trở thành một huyền thoại.

Ở tuổi 27, anh hóa thân vào cậu thiếu niên 17 tuổi bằng tất cả sự trong trẻo và thánh thiện. Khán giả thời đó kể rằng, chỉ cần Thành Lộc gọi "Phượng ơi!", cả khán phòng đã vỡ òa vì xúc động. Sự thuần khiết ấy chính là chất xúc tác khiến bi kịch ở cuối vở diễn trở nên đau xót và ám ảnh hơn bao giờ hết.

Vai Lỗ Quý của Hữu Châu lúc bấy giờ cũng là một sự "mạo hiểm" đầy tính toán của đạo diễn. Dù tuổi đời còn rất trẻ, Hữu Châu đã lột tả một gã tiểu nhân đáng thương với đôi mắt liếc dọc liếc ngang và dáng đi tất tả, tạo nên một nhân vật mang đậm hơi thở kịch nói hiện đại.

Năm 2023, Sân khấu Lệ Ngọc (Hà Nội) đã dàn dựng lại vở này theo ngôn ngữ đương đại, được Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam trao giải B ở hạng mục vở diễn sân khấu năm 2023.

Hành trình "Lôi vũ" trên các sân khấu Việt Nam - Ảnh 4.

Từ trái qua: Minh Hải (vai Lỗ Đại Hải), Hồng Vân (Thị Bình), Quốc Thảo (Chu Bình), Thành Lộc (Chu Xung) và Việt Anh (Chu Phác Viên) trên sân khấu nhỏ 5B cuối thập niên 1980

3. Nếu kịch nói khai thác chiều sâu lời thoại thì cải lương lại mượn tiếng đờn, câu ca để đẩy bi kịch lên đỉnh điểm. Bản chuyển thể của soạn giả Thế Châu do Đoàn Cải lương Sông Bé 2 dàn dựng hồi thập niên 1980 được xem là "mẫu mực của thời đại".

Dưới bàn tay đạo diễn đồng thời hóa thân vào vai Lỗ Quý của NSND Diệp Lang, Lôi vũ cải lương đã trở thành một hiện tượng. Ông đưa vào nhân vật những nhịp thức của cải lương, cách nhấn nhá câu vọng cổ để làm bật lên sự bần tiện và xảo quyệt.

Trong khi đó, NSND Minh Vương đã có một bước ngoặt lịch sử khi rũ bỏ hình ảnh kép mùi để vào vai Chu Phác Viên lạnh lùng, đĩnh đạc. Sự đài các, sang trọng, nhưng đầy nổi loạn của NSƯT Tô Kim Hồng (vai Phồn Y) hoặc nét bạc nhược của NSƯT Minh Phụng (vai Chu Bình) đã tạo nên một dàn diễn xuất "trong mơ". Vai Thị Bình của NSND Thanh Nguyệt cũng để lại dấu ấn đậm nét bằng sự đằm thắm, cam chịu, trước khi NSND Lệ Thủy tiếp nối trong các bản ghi hình sau này.

Trải qua gần một thế kỷ, Lôi vũ vẫn luôn là một đề tài đầy thách thức và quyến rũ. Dù ở loại hình kịch nói hoặc cải lương, dù là những bậc tiền bối hoặc các gương mặt trẻ, kiệt tác của Tào Ngu vẫn luôn tìm được cách để "sống lại" rực rỡ trên sân khấu. Bởi lẽ, sau tất cả những hận thù và bi kịch, điều mà khán giả tìm thấy chính là sự thấu cảm về phận người và khát khao hướng tới ánh sáng của thiện lương giữa những cơn giông bão cuộc đời.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN