Ngày 25/4/1976, hơn 23 triệu cử tri trong cả nước hân hoan đi bỏ phiếu trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Đây không chỉ là ngày hội lớn của toàn dân tộc mà còn là dấu mốc lịch sử khẳng định ý chí độc lập, thống nhất và khát vọng xây dựng đất nước sau ba mươi năm chiến tranh.
Ngày 25/4/1976, hơn 23 triệu cử tri trong cả nước hân hoan đi bỏ phiếu trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Đây không chỉ là ngày hội lớn của toàn dân tộc mà còn là dấu mốc lịch sử khẳng định ý chí độc lập, thống nhất và khát vọng xây dựng đất nước sau ba mươi năm chiến tranh.
Trong nhiệm kỳ 1976-1981, Quốc hội khóa VI đã quyết định những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với vận mệnh quốc gia: xác lập tên nước, các biểu tượng quốc gia, kiện toàn bộ máy nhà nước, thông qua Hiến pháp năm 1980 và định hình cơ chế vận hành của hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những quyết sách ấy đã đặt nền tảng thể chế cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới.
Bầu cử Quốc hội khóa VI (ngày 25/4/1976)
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25/4/1976. Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân Việt Nam.
Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình bầu 492 đại biểu vào Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

Tổng Bí thư Lê Duẩn bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất ngày 25/4/1976 tại khu vực bỏ phiếu số 30, khu Ba Đình, Hà Nội. Ảnh: Tư liệu
Dấu ấn nhiệm kỳ (1976-1981)
Quốc hội khóa VI đã quyết định đường lối, chính sách chung, cơ cấu tổ chức bộ máy và bầu các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thông qua các Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc ca, quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc hội khóa VI đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất trong cả nước, thông qua Hiến pháp năm 1980, mở đầu cho bước phát triển mới trong tiến trình đi lên của đất nước.
Xây dựng và thông qua hiến pháp mới
Với trách nhiệm cao cả trước vận mệnh dân tộc, Quốc hội khóa VI đã soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp mới đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng. So với Hiến pháp năm 1959, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về cơ bản không thay đổi, nhưng về cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Đó là việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bổ sung vị trí Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.
Bên cạnh đó, Quốc hội khóa VI còn thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 5 pháp lệnh, là cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền lực của Nhân dân theo tinh thần của Hiến pháp và pháp luật.
Thông qua các nghị quyết quan trọng
Ngày 2/7/1976, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua các nghị quyết quan trọng về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất. Theo đó, tên nước được đổi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng, mang tính định hướng cho sự phát triển đất nước, đồng thời là tiền đề, động lực để đạt được những thành tựu vẻ vang sau này của cả dân tộc. Tên gọi của Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khóa VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước.
Phê chuẩn kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980)
Trong hoàn cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, khó khăn bề bộn, tại các kỳ họp, Quốc hội khóa VI đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng. Trên cơ sở đó, Chính phủ triển khai thực hiện quyết liệt và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày 25/4/1976, nhân dân khắp hai miền Bắc-Nam nô nức tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Trong ảnh: Cử tri khu Ba Đình, Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất năm 1976. Ảnh: TTXVN
Với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta lại phải đối mặt với những thử thách mới: chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của tập đoàn Pol Pot- Ieng Sary (Campuchia) ở biên giới Tây Nam, bảo vệ Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng (1975-1979) và đấu tranh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc (từ ngày 17/2 đến ngày 18/3/1979).
Trong bối cảnh đó, Quốc hội kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi hành động của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa VI
Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn sau chiến tranh, Quốc hội đã không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát. Thông qua các kỳ họp, Quốc hội tiến hành giám sát việc triển khai Hiến pháp năm 1980, thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hoạt động giám sát không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thể hiện rõ vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm sự vận hành thống nhất, đồng bộ của bộ máy nhà nước trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách.
Kiên trì đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa VI được triển khai rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, nhiều địa bàn và với các tổ chức quốc tế lớn nhằm giải quyết những vấn đề có ý nghĩa chiến lược và những vấn đề phức tạp của đất nước trong quan hệ quốc tế. Quốc hội khóa VI đã thẩm tra và phê chuẩn nhiều hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội Việt Nam đã được kết nạp là thành viên của Liên minh Nghị viện Thế giới (4/1979)
Trong nhiệm kỳ 1976-1981, giữa bối cảnh hậu chiến đầy khó khăn và những thách thức về bảo vệ Tổ quốc, Quốc hội khóa VI đã thể hiện rõ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhân dân. Từ việc xây dựng Hiến pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến giám sát việc thực thi các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Quốc hội đã góp phần củng cố nền tảng chính trị, pháp lý và tổ chức cho tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.