thethaovanhoa.vn

Quốc hội khóa I với những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử 80 năm Quốc hội Việt Nam

Tư liệu TTXVN 17/02/2026 06:37 GMT+7

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhà nước non trẻ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt là "giặc đói", "giặc dốt", "giặc ngoại xâm".

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhà nước non trẻ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt là "giặc đói", "giặc dốt", "giặc ngoại xâm".

Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều biện pháp khôn khéo để giữ gìn, bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được, xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng.

Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu". Ngay sau đó, ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 14/SL về việc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội và ngày 20/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 34/SL về việc thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Quốc hội khóa I với những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử 80 năm Quốc hội Việt Nam - Ảnh 1.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội

Sau một thời gian tích cực, khẩn trương chuẩn bị, ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức thành công trên phạm vi cả nước. Gần 90% cử tri cả nước đã đi bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu vào Quốc hội khóa I, là những người đại diện cho nhân dân ở ba miền đất nước: Bắc Bộ (152 đại biểu), Trung Bộ (108 đại biểu), Nam Bộ (73 đại biểu), đại diện cho các đảng cách mạng và dân chủ, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc thiểu số, các tôn giáo và nhân sĩ trí thức yêu nước, là hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sau đó, Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I đã mở rộng số đại biểu thêm 70 người.

Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong hơn chín thập kỷ, đặc biệt là 15 năm đấu tranh trực tiếp dưới ngọn cờ độc lập, tự do của Đảng Cộng sản (1930-1945), đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kể từ ngày 6/1/1946, ngày Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến ngày 15/4/1960, ngày bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa I, Quốc hội đã trải qua hơn 14 năm hoạt động đầy thử thách, cam go và giành được những thắng lợi to lớn, xứng đáng là một Quốc hội của dân, do dân và vì dân.

Sau khi ra đời, Quốc hội đã thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến (2/3/1946) và tiếp đó là Chính phủ Kháng chiến (3/11/1946) để thực hiện kháng chiến và kiến quốc, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Quốc hội luôn luôn bên cạnh Chính phủ, đi sát Nhân dân, động viên toàn dân, toàn quân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", "được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc".

Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, nhân dân Việt Nam mong muốn có cuộc sống hòa bình, tự do. Tuy nhiên, ngay sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam theo tinh thần Hiệp định Geneva, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng thế chân Pháp xâm lược Việt Nam, thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Trước bối cảnh đó, từ năm 1954 đến năm 1960, Quốc hội đã quyết tâm thi hành đúng Hiệp định Geneva, đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải lập quan hệ bình thường giữa hai miền Bắc và Nam, cùng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Quốc hội đã thông qua các kế hoạch khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố và tăng cường Nhà nước, phát triển chế độ dân chủ Nhân dân, đưa miền Bắc tiến dần từng bước theo con đường xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, chi viện, tạo thế, tạo lực cho cách mạng miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Thực tiễn lịch sử giai đoạn 1946-1960 cho thấy, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành cơ quan cao nhất đại diện quyền làm chủ của Nhân dân, giải quyết mọi vấn đề chung của đất nước, xây dựng Hiến pháp và pháp luật, biểu quyết ngân sách, quyết định tuyên chiến và đình chiến, chuẩn y các hiệp ước do Chính phủ ký với nước ngoài. Đặc biệt, ngay sau khi mới thành lập, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng với Hội đồng Chính phủ quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6/3 với Pháp; đã phát động cuộc kháng chiến trong toàn quốc tháng 12/1946. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Ban Thường trực Quốc hội thường xuyên bên cạnh Chính phủ để bàn bạc, góp ý kiến và giám sát Hội đồng Chính phủ về việc ban hành và thực thi các chính sách kháng chiến. Từ năm 1954 đến năm 1960, trong điều kiện miền Bắc hòa bình tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Quốc hội đã họp định kỳ đều đặn để quyết định các vấn đề lớn về quốc kế dân sinh, về chính trị, quân sự, về ngân sách, v.v..

Để thực hiện tốt chức năng của mình, Quốc hội khóa I hết sức coi trọng việc xây dựng Hiến pháp và các đạo luật. Với hơn 14 năm hoạt động, trong đó thời gian chiến tranh ác liệt chiếm gần 9 năm, Quốc hội khóa I đã hai lần xây dựng Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959) và thông qua nhiều đạo luật lớn như: Luật cải cách ruộng đất, Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của Nhân dân; Luật quy định quyền tự do hội họp; Luật quy định quyền lập hội; Luật về chế độ báo chí; Luật công đoàn; Luật hôn nhân và gia đình; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, v.v. Các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã được Hiến pháp và luật pháp quy định khá cụ thể. Nội dung cơ bản của các quyền dân tộc và dân chủ đó còn nguyên giá trị thực tiễn, đã được kế thừa và phát triển trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Có thể nói, trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, nhưng Quốc hội khóa I đã thể hiện bản lĩnh chính trị kiên cường, là một Quốc hội đã hết lòng vì dân, vì nước, một Quốc hội thống nhất, một Quốc hội kháng chiến, kiến quốc. Trong bất luận hoàn cảnh lịch sử nào, Quốc hội cũng luôn đặt lợi ích của Nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Quốc hội đã thừa nhận sự lãnh đạo về chính trị của Đảng Cộng sản, một Đảng cách mạng và trí tuệ, có đường lối chính trị và tổ chức đúng, phù hợp với yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, kiến quốc. Chính vì vậy, Quốc hội đã được Nhân dân tin tưởng, bảo vệ và chấp hành mọi nghị quyết của Quốc hội. Đây là bản chất và là điểm độc đáo xuyên suốt của Quốc hội khóa I, hàm chứa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về tổ chức và hoạt động đối với Quốc hội hiện nay.

Bản quyền © Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN