Danh tính người Việt Nam, tưởng chừng chỉ là những tên họ gắn với mỗi cá nhân, thực chất lại phản chiếu sâu sắc đời sống văn hóa, tâm thức xã hội và những ám ảnh lịch sử kéo dài qua nhiều thế hệ.
Danh tính người Việt Nam, tưởng chừng chỉ là những tên họ gắn với mỗi cá nhân, thực chất lại phản chiếu sâu sắc đời sống văn hóa, tâm thức xã hội và những ám ảnh lịch sử kéo dài qua nhiều thế hệ.
Qua việc giải mã các quan niệm đặt tên và mô thức danh tính quen thuộc trong công trình Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính của người Việt (NXB Thế giới, Nhã Nam) vừa ra mắt tại Hà Nội và TP.HCM, Trần Quang Đức cho thấy tên họ không chỉ để xưng danh, mà còn là nơi ký thác niềm tin, quyền lực và khát vọng sinh tồn của con người Việt Nam.
Từ giải mã "tên xấu dễ nuôi"
Đọc Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính của người Việt, ta thấy một loạt quan niệm phổ biến về việc đặt tên của người Việt Nam được lý giải xác đáng trên nền tảng những cứ liệu lịch sử đáng tin cậy. Ngay từ đầu, Trần Quang Đức đã tạo sức hút bằng cách tiếp cận gần gũi, mộc mạc, đi thẳng từ đời sống dân gian vào những tầng sâu của văn hóa - lịch sử.

Sách “Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính của người Việt” (NXB Thế giới, Nhã Nam)
Một trong những quan niệm nổi bật được tác giả phân tích là "tên xấu dễ nuôi". Theo Trần Quang Đức, hầu hết người Việt Nam xưa tin rằng, trẻ em không nên sở hữu tên đẹp quá sớm. Tên càng nổi bật, ma quỷ càng để ý; tên càng tầm thường, ma quỷ sẽ ngó lơ.
Quan niệm này, ông Đức cho rằng, xuất phát từ nỗi sợ những điều vô hình không thể lý giải, người Việt Nam tưởng tượng trẻ con gầy yếu, quấy khóc, ốm đau, yểu mệnh tất cả đều do ma làm. Từ đó nghĩ ra những thuật kiêng kị phi logic, nhằm đề phòng ma quỷ, trong đó có mẹo đặt tên.
Những tên thô nhẹ nhàng được đặt có thể kể tới: Cóc, Chuột, Chó, Heo, Chồn, Chấy… Thô hơn là những tên đặt theo tình trạng sinh nở: Nhanh, Muộn, Tõng, Tuột, Thụt, Êm… Tên thô hết mức hẳn là những cái tên được đặt theo tên bộ phận sinh dục cùng chức năng và sản phẩm của hệ bài tiết.

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức
Đáng nói, theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, hiện tượng đặt tên này ở Việt Nam là hiện tượng phổ biến, dứt khoát không phải nhất thời.
"Ta có thể tìm thấy đủ các cung bậc thô tục qua danh tính của những người làng góp tiền công đức xây cầu được lưu lại trên tấm bia Mạo Xuyên thủy kiều bi ký, ở khu vực Hải Dương cách đây 333 năm. Đó là những cái tên như Nở, Ngược, Lọt, Bon, Nghêu, Eo, Hỡi, Sáu, Dừng…" - ông dẫn chứng.
Đến trọng nam khinh nữ
Dòng chảy lịch sử của tên gọi
Cuốn sách Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính của người Việt được chia thành 3 phần, mỗi phần lần theo sự phát triển của tên gọi qua các thời kỳ lịch sử.
Ở phần đầu tiên Mộc mạc tới cầu kỳ, ta thấy được rằng, trong thuở sơ khai, con người đặt tên để sinh tồn. Cách đặt tên có sự dịch chuyển và phát triển, từ chỗ mộc mạc, "xấu xí" dần trở nên thanh nhã, mang tính biểu tượng hơn, hoặc "cao quý", "thanh tao" hơn theo sự ổn định dần của đời sống và sự lan rộng của tri thức.
Phần hai của sách, Mưu toan quyền lực, tập trung vào giai đoạn các triều đại người Việt Nam nắm quyền cai trị - thời kỳ mà tên gọi trở thành biểu tượng và công cụ của quyền lực và uy tín. Chủ đề của phần 3 là Hướng tới tự do, nơi tên gọi trở thành cách để con người khẳng định "tôi là ai".
Bên cạnh đó, trong xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhiều người còn tin rằng ma quỷ chỉ "bắt" con trai mà tha con gái. Vì thế, những cái tên nữ tính được dùng để đặt cho các cậu con trai với mong muốn đánh lạc hướng quỷ thần, đồng thời gửi gắm ước vọng đứa trẻ mềm mại, dễ sống, dễ nuôi.
"Trên vũ đài lịch sử, không ít những nam tử hán đội trời đạp đất ở đời cũng đeo trên mình chiếc thẻ tên nữ tính. Có thể điểm qua vài nhân vật như Hắc Đế Mai Thúc Loan; anh em vua Trần Thái Tông, người tên Bồ, người tên Liễu. Một số văn thần các triều như Vương Nhữ Mai, Lê Lan Hinh, Đào Xuân Lan và Phạm Chi Hương…" - ông Đức dẫn chứng - "Mang tên gọi gắn với loài cỏ hoa, dù là biểu tượng quân tử, song thoáng nghe vẫn phảng phất nét hương đài các. Bởi lẽ loan phượng, bồ liễu hay mai lan, xưa nay vẫn thường gắn với tính nữ, là những tên đẹp dành cho phái nữ trong văn hóa Á Đông".
Như phân tích, tác giả Họ và tên nhấn mạnh, việc núp dưới những cái tên hòng qua mắt được quỷ thần độc ác thể hiện những nỗi bất lực, không có cách giải quyết, trước môi trường sống bấp bênh, khắc nghiệt. Ước vọng sống sót và sinh sôi cứ vậy nương náu dưới đủ dạng căn cước tính danh.
"Tính danh bấy giờ đã không còn là lớp ngôn từ vô tri giác, đã được gắn cho những ám thị, những niềm tin, những hư cấu văn hóa, có thể rất ảo, nhưng cũng lại rất thực" - Trần Quang Đức bày tỏ.

Ra mắt sách “Họ và tên” của Trần Quang Đức tại Hà Nội ngày 15/1/2026
Và hé lộ thú vị về tên đệm "Thị"
Lâu nay, trong nhận thức phổ biến, tên đệm "Thị" thường được mặc định dành cho phụ nữ. Tuy nhiên, chỉ một chữ "Thị" này lại mang trong mình cả một lịch sử dài và phức tạp trong cách đặt tên của người Việt Nam xưa.
Trong công trình khảo cứu Họ và tên, Trần Quang Đức đã đưa ra nhiều phát hiện thú vị, giúp soi chiếu lại một quan niệm tưởng như đã quá quen thuộc.
Theo ông, trong tâm thức của tầng lớp trí thức tư duy bằng Hán văn trước đây, "Thị" trong từ "Thị tộc" vốn dĩ không phân biệt nam nữ, chỉ đơn giản được hiểu là họ tộc.
Dẫn lại sử liệu, nhà nghiên cứu này cho biết: Vào một ngày cuối Thu năm 1782, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được mời tới nhà của quốc lão thượng thư Uông Sĩ Đoan coi bệnh. Xem mạch xong, người ta mời ông qua thủy tạ ven hồ, thưởng trà trò chuyện.

Ra mắt sách tại TP.HCM ngày 25/1/2026
Bấy giờ, thấy cảnh đẹp nao lòng. Hải Thượng sẵn thấy giấy bút, liền đưa tay thảo hàng thơ: "Cò nội rúc hoa ngủ, cá nhàn bỡn lá rơi, trà ngon mời khách uống, cười nói khói thơm bay". Ở dòng lạc khoản cuối bức thư pháp, ông viết: Bần y Lê thị, biệt hiệu Hải Thượng Lãn Ông đề.
Theo Trần Quang Đức, giới trí thức Nho học trước đây thường giấu đi húy danh, chỉ dùng công khai tên tự, hiệu. Cũng có khi xưng họ kèm xuất xứ quê hương bản quán như La Sơn Bùi thị, Nhị Khê Nguyễn thị…
Không chỉ riêng Lê Hữu Trác, ông Đức tiết lộ, Cao Bá Quát trước kia cũng từng xưng Cao thị, khi qua chơi nhà bạn, Cao đều viết thơ, gọi mấy ông bạn mình là Quan thị, Mã thị, Phạm thị. Đặc biệt, Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn viết: "Mạch Kính Điển đưa Mạc thị Mậu Hợp trở về thành Thăng Long". Trong khi, Mạc Mậu Hợp là ông vua thứ 5 của nhà Mạc, bấy giờ 13 tuổi, đã ở ngôi được 11 năm.
Như dẫn chứng, ông Đức cho rằng, cách gọi họ kèm thị như Lê thị, Cao thị, Mạc thị, rõ ràng vẫn được cánh mày râu có chữ nghĩa sử dụng đến cuối thời Nguyễn, trong khi họ kèm thị và tên lại trở thành mô thức danh tính đặc trưng của phụ nữ Việt Nam trải đến tận ngày nay.
Không dừng lại ở việc giải mã những quan niệm và mô thức tên họ quen thuộc, Họ và tên của Trần Quang Đức còn mở rộng góc nhìn về danh tính người Việt Nam thông qua tên gọi. Ở đó, tên họ vừa phản ánh dòng chảy của quyền lực xã hội, vừa là dấu ấn của những vận động âm thầm trong đời sống tinh thần cá nhân: Khát vọng khẳng định bản ngã, nhu cầu hòa nhập cộng đồng, nỗi lo âu trước biến động thời cuộc và cả khát vọng giải phóng tâm trí.
Vài nét về Trần Quang Đức
Sinh năm 1985, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, là một dịch giả và là nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử với nhiều công trình nổi tiếng, gây tiếng vang lớn trong nước. Ông hoạt động tích cực trong việc nghiên cứu, giảng dạy với mục tiêu gìn giữ và đưa lịch sử văn hóa muôn màu muôn vẻ của Việt Nam đến gần hơn với người trẻ.
Các tác phẩm của tác giả Trần Quang Đức đã xuất bản: Ngàn năm áo mũ - Lịch sử trang phục Việt Nam giai đoạn 1009 - 1945 (2013); Chuyện trà - Lịch sử một thức uống lâu đời của người Việt (2021).